TP Hà Nội đang giải phóng mặt bằng 1.428 dự án, trong đó có nhiều công trình giao thông lớn như 4 cầu vượt sông Hồng (Hồng Hà, Mễ Sở, Vân Phúc và Ngọc Hồi); khép kín các đường vành đai, mở rộng quốc lộ 1, 6... Lượng phế thải xây dựng phát sinh trên 10.000 tấn mỗi ngày, gấp 4-5 lần bình thường, bao gồm bêtông, gạch, đá, vữa, kim loại, gỗ, nhựa, kính, đất đào, bùn thải...
Khác với rác sinh hoạt, phế thải xây dựng được xem là nguồn tài nguyên thứ cấp bởi phần lớn thành phần còn giá trị sử dụng sau khi được phân loại và xử lý phù hợp. Sau khi nghiền, sàng và xử lý, phế thải có thể trở thành cốt liệu cho nền đường, vật liệu san lấp mặt bằng, sản xuất gạch không nung, bêtông, vật liệu sản xuất cấu kiện xây dựng.
Theo ông Nguyễn Văn Hoan, chuyên gia Viện Chuyên ngành Xi măng bêtông (Viện Vật liệu xây dựng), khoảng 80% chất thải rắn đô thị đang bị chôn lấp, chỉ gần 17% được tái chế dưới dạng nghiền nhỏ để phục vụ san lấp hoặc vật liệu nền đường. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với tiềm năng sử dụng của loại chất thải gồm đất đá, bêtông, gạch vụn.
Sử dụng vật liệu tái chế giúp giảm tình trạng khai thác đá, cát sông, đất đắp và các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng. "Trong bối cảnh nguồn cát và đá ngày càng khan hiếm, đây là nguồn nguyên liệu rất đáng giá", ông Hoan nói.
Những công trình phá dỡ ở Hà Nội tạo hàng nghìn tấn chất thải rắn mỗi ngày. Ảnh: Phạm Chiểu
Hiện cốt liệu tái chế dùng để san lấp nền đường - loại giá trị thấp nhất, được bán từ 70.000 đến 100.000 đồng/tấn. Cốt liệu hạt, cát nghiền tái chế giá từ 150.000 đến 200.000 đồng/m3. Nếu Hà Nội tái chế được 10.000 tấn phế thải xây dựng để san lấp nền mỗi ngày, ít nhất có thể thu về khoảng 0,7-1 tỷ đồng.
Các nghiên cứu cho thấy vật liệu tái chế có giá thành thấp hơn khoảng 20% so với vật liệu tự nhiên. Tỷ lệ tái chế phế thải xây dựng có thể đạt trên 90% khối lượng đầu vào, riêng bêtông nhựa và bêtông xi măng có thể tái sử dụng gần như 100%, theo PGS.TS Tống Tôn Kiên, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng vật liệu xây dựng nhiệt đới (Đại học Xây dựng).
Quan trọng hơn, nguồn vật liệu tái chế giúp thay thế nguồn vật liệu tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt. Tại Hà Nội, hàng loạt công trình đang triển khai đều có nhu cầu lớn về cát vàng, cát xây, đất đắp. Đơn cử dự án vành đai 4 vùng Thủ đô thiếu khoảng 6 triệu m3 đất đắp và khối lượng lớn cát, đá xây dựng. Trong khi đó sản lượng khai thác tại các mỏ vật liệu ở Hà Nội không đủ, buộc nhà thầu phải mua vật liệu từ mỏ tại tỉnh Phú Thọ, tăng chi phí vận chuyển.
Công nghệ biến phế thải thành tiền
Thấy được tiềm năng của phế thải rắn xây dựng, ngành xây dựng đã nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm vật liệu xây dựng tái chế và ban hành cơ bản hệ thống tiêu chuẩn. Những nghiên cứu đầu tiên được triển khai từ năm 2007, do TS Lê Việt Hùng (Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng) thực hiện. Giai đoạn đầu, nhóm tập trung đánh giá khả năng nghiền, sàng phế thải xây dựng để tái chế thành vật liệu đầu vào cho vữa và bêtông.
Năm 2012, dự án sản xuất thử nghiệm "Hoàn thiện công nghệ tái chế phế thải phá dỡ công trình làm cốt liệu cho xây dựng" đã triển khai thành công dây chuyền sản xuất cốt liệu tái chế ở quy mô công nghiệp. Dây chuyền tạo ra cốt liệu tái chế từ phế thải phá dỡ (bêtông, tường xây gạch), cốt liệu nhỏ được sử dụng sản xuất gạch không nung, còn cốt liệu lớn có kích thước đến 40 mm được dùng thay đá dăm để sản xuất bêtông.
Tại Đại học Xây dựng, PGS.TS Tống Tôn Kiên, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng vật liệu xây dựng nhiệt đới, cho biết giai đoạn 2012-2016, nhóm nghiên cứu của trường đã thực hiện hàng loạt đề tài nghiên cứu chuyên sâu về sử dụng cốt liệu tái chế thành đá dăm và cát để sản xuất vữa và bêtông xi măng chịu lực. Giai đoạn 2019-2021, nhóm tiếp tục sản xuất thử cấu kiện bêtông cốt thép đúc sẵn từ phế thải bêtông trong phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy vật liệu tái chế có thể sử dụng trong các công trình.
Núi phế thải trên phố Vạn Kiếp, Hà Nội, tháng 5/2026. Ảnh: Phạm Chiểu
Để đưa cốt liệu tái chế vào cuộc sống, các bộ ngành đã ban hành hệ thống tiêu chuẩn. Năm 2023, tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13694 ra đời, quy định cấp phối vật liệu tái chế dùng làm lớp móng đường giao thông đô thị. TCVN 11969:2018 quy định cốt liệu lớn tái chế cho bêtông. Nhiều tiêu chuẩn liên quan vật liệu san lấp, tái chế bêtông nhựa, thiết kế hỗn hợp và thi công cũng đã được Bộ Khoa học và Công nghệ thông qua giai đoạn 2020-2025.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Hoan, chuyên gia Viện chuyên ngành Xi măng bê tông (Viện Vật liệu xây dựng), trở ngại của Hà Nội hiện không nằm ở công nghệ xử lý. Một số doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư dây chuyền tái chế hiện đại, thậm chí có thiết bị nghiền di động xử lý ngay tại công trường. Tuy nhiên, đầu ra sản phẩm tái chế chưa ổn định. Nhiều chủ đầu tư và nhà thầu vẫn e ngại chất lượng, độ bền của sản phẩm.
Hà Nội cũng như phần lớn địa phương chưa có quy hoạch riêng cho chất thải rắn xây dựng hoặc quy hoạch vị trí thu gom, xử lý ngoài đê sông khiến doanh nghiệp khó thực hiện dự án. Đơn vị xử lý chất thải rắn công suất trên 500 tấn/ngày phải đánh giá tác động môi trường, phê duyệt báo cáo tác động và có giấy phép môi trường, hệ thống quan trắc tự động..., gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Đặc biệt, chi phí sản xuất cao khiến một số doanh nghiệp e ngại đầu tư. Phần lớn phế thải hiện nay từ các công trình thường bị đổ lẫn bêtông, gạch, đất, kim loại và bùn thải. Khi đưa về xử lý, doanh nghiệp phải tốn thêm nhân công và chi phí phân loại. Theo tính toán của Công ty Cổ phần dịch vụ sản xuất Toàn Cầu, chi phí sản xuất tái chế vật liệu đắp nền khoảng 100.000-110.000 đồng/tấn, bao gồm phí đầu tư thiết bị, nhân công sản xuất, chi phí phân loại...
Làm gì để khai thác tài nguyên phế thải xây dựng?
Để giải quyết bài toán chất thải rắn xây dựng, theo PGS.TS Tống Tôn Kiên, trước hết địa phương cần quy hoạch quỹ đất dành riêng cho các khu xử lý, bãi tập kết tái chế. Khi có hạ tầng tiếp nhận phù hợp, việc xử lý loại chất thải không quá phức tạp. Kế đó, cần có quy định bắt buộc phân loại chất thải xây dựng tại nguồn, quy định rõ trách nhiệm chuyển giao cho các đơn vị xử lý được cấp phép. Chủ nguồn thải phải chi trả đầy đủ chi phí xử lý.
Một giải pháp quan trọng khác là thúc đẩy thị trường vật liệu tái chế. Hiện Việt Nam đã có khung chính sách khuyến khích nhưng chưa đủ cụ thể và hấp dẫn để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư. Theo ông Kiên, cần có cơ chế ưu đãi mạnh hơn đối với các doanh nghiệp sản xuất vật liệu tái chế, đồng thời phát triển các trung tâm xử lý có quy mô đủ lớn, công suất tối thiểu 500-1.000 tấn mỗi ngày để bảo đảm hiệu quả kinh tế.
Bên cạnh đó, chính sách mua sắm công cần đóng vai trò dẫn dắt thị trường. Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước nên được quy định tỷ lệ bắt buộc sử dụng vật liệu tái chế trong xây dựng. Điều này đặc biệt phù hợp với các đô thị lớn, nơi nguồn vật liệu tự nhiên khan hiếm và phải vận chuyển từ xa, trong khi nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng rất lớn.
Điểm nghiền phế thải xây dựng ở gần nút giao Pháp Vân - Cầu Giẽ. Ảnh: Phạm Chiểu
Dẫn kinh nghiệm từ Nhật Bản và Anh, ông Kiên cho biết các thành phố thường quy hoạch nhiều điểm tiếp nhận phế thải xây dựng. Đối với vật liệu đã được phân loại, các cơ sở tái chế thậm chí hỗ trợ chi phí vận chuyển hoặc trả tiền cho đơn vị thu gom. Ngược lại, vật liệu chưa được phân loại sẽ được đưa tới các cơ sở chuyên trách để phân loại và tái chế trước khi đưa vào sử dụng trở lại.
Ngoài ra, Nhà nước có thể nghiên cứu áp dụng cơ chế tín chỉ carbon đối với vật liệu tái chế nhằm ghi nhận giá trị giảm phát thải, tạo thêm nguồn thu cho doanh nghiệp. Song song với đó là các chương trình hỗ trợ nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ để nâng cao hiệu quả tái chế chất thải xây dựng, hướng tới phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng.
Chuyên gia Nguyễn Văn Hoan nhận định Hà Nội cần đồng thời mở rộng quy hoạch bãi tiếp nhận, siết kiểm soát đổ trộm, bắt buộc phân loại tại công trường và từng bước đưa vật liệu tái chế vào các dự án đầu tư công. Nếu không trong 5-10 năm tới thành phố sẽ đối mặt áp lực lớn về bãi đổ, ô nhiễm môi trường và thiếu nguồn vật liệu tự nhiên như cát, đá, đất san lấp.
Đoàn Loan