Chào bạn!
Hiện các nhà khoa học đã phân lập được hơn 200 chủng HPV, trong đó khoảng 40 chủng lây nhiễm theo đường sinh dục và khoảng 15 chủng nguy cơ cao có khả năng gây ung thư. Hầu hết các trường hợp nhiễm HPV không có triệu chứng, nên nhiều người hoàn toàn không biết mình đã nhiễm vi rút cho đến khi xuất hiện tổn thương nghiêm trọng hơn. Theo thống kê, đa số các trường hợp nhiễm HPV có thể tự đào thải vi rút ra khỏi cơ thể. Tuy nhiên, một số trường hợp không tự đào thải được dẫn tới khả năng nhiễm dai dẳng và có nguy cơ tiến triển thành các bệnh lý liên quan như mụn cóc sinh dục, tiền ung thư và ung thư do HPV gây ra, như: tiền ung thư và ung thư cổ tử cung, hậu môn sinh dục ở cả nam và nữ.
Một số chủng HPV nguy cơ thấp như HPV-6 và HPV-11 là nguyên nhân gây ra mụn cóc sinh dục (sùi mào gà) – một trong những bệnh lây qua đường tình dục phổ biến. Triệu chứng của sùi mào gà là các tổn thương điển hình là các sẩn nông, kích thước 1–10mm, có thể đơn độc hoặc thành cụm, dạng sẩn mịn, sẩn súp lơ, hoặc sẩn tăng sừng. Ở nam giới, vị trí thường gặp là dương vật, dây hãm, bao quy đầu, bìu, quanh hậu môn. Ở nữ giới, thường xuất hiện ở âm hộ, môi lớn, môi bé, âm đạo, cổ tử cung, vùng quanh hậu môn.
Cảm ơn câu hỏi của bạn. Chúc bạn và gia đình nhiều sức khỏe!
Chào bạn!
HPV là một trong những vi rút lây truyền qua đường tình dục phổ biến hàng đầu, ảnh hưởng đến cả nam và nữ, bao gồm cả quan hệ tình dục bằng miệng, hậu môn, tiếp xúc với vùng da hoặc niêm mạc bị nhiễm HPV. Bên cạnh đó, một nghiên cứu tại Đại học Y Vienna (2013) cho thấy lây truyền không qua đường tình dục vẫn có thể xảy ra, chẳng hạn khi tiếp xúc với vật dụng cá nhân bị nhiễm vi rút như khăn tắm, các vật dụng cá nhân (dù hiếm gặp).
Một số nghiên cứu được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố cho thấy việc bắt đầu quan hệ tình dục sớm là một yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng nhiễm HPV, dù mối liên hệ này vẫn cần được nghiên cứu thêm. Một nghiên cứu tại Ấn Độ (2022–2023) cho thấy có đến 19,14% nữ giới từ 14–18 tuổi, dù chưa từng quan hệ tình dục, đã nhiễm HPV type 16 – chủng vi rút có nguy cơ cao gây ung thư cổ tử cung. Theo thông tin từ Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ giai đoạn 2003 - 2006, khoảng 14 triệu ca nhiễm HPV mới xảy ra mỗi năm, trong đó gần một nửa rơi vào nhóm người từ 15 đến 24 tuổi.
Điều này cho thấy trẻ có nguy cơ phơi nhiễm HPV từ sớm, đặc biệt nếu bắt đầu quan hệ ở tuổi vị thành niên.
Cảm ơn câu hỏi của bạn. Chúc bạn và gia đình nhiều sức khỏe!
Chào bạn!
Mụn cóc sinh dục là một trong các bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến. Ở nam, mụn cóc sinh dục thường gặp ở vùng bìu, dương vật, và quanh hậu môn. Ở nữ, mụn cóc sinh dục xuất hiện ở âm hộ, âm đạo, cổ tử cung và quanh hậu môn. Nếu quan hệ bằng miệng, có thể xuất hiện mụn cóc ở miệng, lưỡi, môi hoặc họng.
Mụn cóc sinh dục có thể chỉ là một nốt hoặc thành đám (trông giống như súp lơ), mềm hoặc cứng, có màu trắng, đỏ hồng, cùng màu với da hoặc tối hơn vùng da xung quanh. Thông thường, chúng không gây khó chịu, nhưng đôi khi có thể gây đau, ngứa hoặc chảy máu. Ngoài ra, người bệnh có thể cảm thấy đau hoặc khó chịu khi quan hệ tình dục; gặp vấn đề khi tiểu tiện (có thể có máu trong nước tiểu, tiểu khó, hoặc tiểu ngắt quãng). Khoảng 90% mụn cóc sinh dục có nguyên nhân từ nhiễm HPV chủng 6 và 11.
Để chắc chắn, bạn nên đi khám nếu thấy xuất hiện một hoặc nhiều cục u không đau hoặc khối u quanh âm đạo, dương vật hoặc hậu môn; ngứa hoặc chảy máu từ bộ phận sinh dục hoặc hậu môn; dòng tiểu bất thường (ví dụ, nước tiểu chảy lệch sang một bên) kéo dài không tự hết; hoặc khi bạn tình bị mụn cóc sinh dục, ngay cả khi bạn không chắc mình có bị hay không.
Cảm ơn câu hỏi của bạn. Chúc bạn và gia đình nhiều sức khỏe!
Chào bạn!
HPV là vi rút lây truyền qua đường tình dục phổ biến trên thế giới. Mặc dù phần lớn các trường hợp nhiễm HPV không có triệu chứng và tự đào thải, nhưng việc nhiễm dai dẳng có thể dẫn đến các bệnh như mụn cóc sinh dục, tiền ung thư và ung thư như ung thư cổ tử cung, hậu môn sinh dục ở cả nam và nữ.
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ, chưa có căn cứ cho việc nhiễm HPV ảnh hưởng đến khả năng sinh sản. Tuy nhiên, một số tổn thương tiền ung thư, ung thư do HPV gây ra, các thủ thuật điều trị có thể ảnh hưởng đến khả năng mang thai và duy trì thai kỳ ở nữ giới.
Ở nam giới, theo một nghiên cứu cắt ngang tại Đại học Padova (Ý) công bố năm 2013 trên 61 nam giới bị vô sinh, sự hiện diện của HPV 16 trong tinh dịch có thể liên quan đến việc giảm khả năng di chuyển của tinh trùng. Nghiên cứu chỉ ra rằng HPV có thể đóng vai trò góp phần gây vô sinh ở nam giới. Tuy nhiên vẫn cần nghiên cứu thêm về tác động của HPV ở nam giới để khẳng định mối liên quan này.
Tóm lại, mặc dù đa số trường hợp nhiễm HPV không có triệu chứng và tự đào thải mà không gây ảnh hưởng về sức khỏe, nhưng việc nhiễm dai dẳng có thể gây ra nhiều bệnh lý sinh dục liên quan đến HPV. Tuy nhiên, quá trình điều trị ung thư cổ tử cung ở nữ giới hay nhiễm có nguy cơ cao, đơn cử như HPV 16 ở nam giới, có thể làm ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản sau này. Vì vậy, cả nam và nữ nên chủ động dự phòng HPV theo hướng dẫn từ Bộ Y tế để dự phòng các bệnh lý liên quan đến HPV.
Cảm ơn câu hỏi của bạn. Chúc bạn và gia đình nhiều sức khỏe!
Chào bạn!
Ngoài UTCTC, hiện chưa có khuyến cáo sàng lọc thường quy cho các ung thư khác gây ra do HPV (như ung thư hậu môn, âm hộ, âm đạo…) cũng như chưa có các phương pháp sàng lọc thường quy được khuyến nghị cho các bệnh ung thư do HPV gây ra ở nam giới.
Khi xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung cho kết quả dương tính với HPV, các bác sĩ sẽ có thể chỉ định thực hiện thêm các xét nghiệm khác nhằm phân tầng nguy cơ như xét nghiệm định týp HPV từng phần, soi cổ tử cung, tế bào cổ tử cung hoặc VIA để có hướng xử trí phù hợp.
Chúng ta nên hiểu rằng, nhiễm HPV không đồng nghĩa với việc bản thân đã mắc tiền ung thư, ung thư. Phần lớn các các trường hợp nhiễm HPV thường không có triệu chứng và có thể tự đào thải, nhưng việc nhiễm dai dẳng có thể gây ra các bệnh lý, tiền ung thư và ung thư liên quan ở cả nam và nữ.
Bên cạnh đó, để dự phòng HPV và các bệnh lý liên quan, chúng ta nên tham vấn chuyên gia y tế thực hiện các biện pháp như: duy trì hành vi lối sống lành mạnh, quan hệ tình dục an toàn, tiêm vắc xin HPV tại các cơ sở y tế, thực hiện tầm soát ung thư cổ tử cung định kỳ theo khuyến cáo của Bộ Y tế.
Cảm ơn câu hỏi của bạn. Chúc bạn và gia đình nhiều sức khỏe!