Nhóm 15-24 tuổi và những người có hành vi tình dục không an toàn có nguy cơ nhiễm HPV.
Chào bạn!
HPV có hơn 200 chủng khác nhau. Nếu bạn đã nhiễm một chủng HPV vẫn có nguy cơ nhiễm lại chính chủng đã nhiễm trước đó, hoặc có thể nhiễm các chủng khác. Bạn có thể sẽ bị tái nhiễm và nhiễm mới nếu vẫn tiếp xúc với nguồn lây nhiễm vi rút.
Khoảng 9 trong 10 trường hợp nhiễm HPV có thể tự khỏi mà không gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Tuy nhiên, mặc dù phần lớn các trường hợp nhiễm HPV không có triệu chứng và tự khỏi, nhưng việc nhiễm dai dẳng có thể dẫn đến mụn cóc sinh dục và các ung thư liên quan.
Các biện pháp phòng vệ HPV có thể kể đến gồm: thay đổi hành vi lối sống bằng cách không hút thuốc, tăng cường vận động thể lực, dinh dưỡng hợp lý; quan hệ tình dục lành mạnh, an toàn, sử dụng bao cao su mỗi lần quan hệ. Bên cạnh đó, tiêm vắc xin HPV tại các cơ sở y tế, tầm soát ung thư cổ tử cung định kỳ cho phụ nữ 21-65 tuổi theo hướng dẫn của chuyên gia y tế. Ngoài ra, việc đã thực hiện cắt bao quy đầu có thể giúp giảm nguy cơ lây nhiễm HPV ở nam giới theo một số nghiên cứu.
Cảm ơn câu hỏi của bạn. Chúc bạn và gia đình nhiều sức khỏe!
Chào bạn!
HPV (Human Papillomavirus) là vi rút gây u nhú ở người. Đây là vi rút lây qua đường tình dục phổ biến trên thế giới. Hầu hết những ai có hoạt động tình dục sẽ nhiễm HPV ít nhất một lần trong đời.
Các đường lây truyền HPV có thể kể đến như: quan hệ tình dục bao gồm cả quan hệ qua đường âm đạo, miệng, hậu môn; tiếp xúc với vùng da hoặc niêm mạc đã nhiễm HPV; lây từ mẹ sang con trong quá trình sinh nở (mặc dù trường hợp này hiếm gặp). Bao cao su không thể bảo vệ hoàn toàn khỏi việc lây nhiễm HPV qua đường quan hệ tình dục.
Ngoài ra, HPV cũng có thể tự lây nhiễm giữa các vùng trên cơ thể, đơn cử như, việc lây truyền này có thể xảy ra giữa các ngón tay và cơ quan sinh dục. Đặc biệt, HPV có thể lây ngay cả khi không có dấu hiệu hay triệu chứng. Bạn vẫn có thể nhiễm HPV dù chỉ có một bạn tình. Các triệu chứng có thể xuất hiện nhiều năm sau khi quan hệ tình dục với người bị nhiễm, khiến việc xác định thời điểm nhiễm HPV trở nên rất khó.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, người từng nhiễm HPV có thể bị tái nhiễm cùng một chủng hoặc nhiễm mới với chủng khác. Theo một nghiên cứu ở phụ nữ trưởng thành, miễn dịch tự nhiên dường như không đóng vai trò rõ rệt trong việc kiểm soát tái nhiễm HPV – dù là với chủng cũ hay chủng mới. Nghiên cứu cho thấy, sau khi nhiễm HPV, phụ nữ vẫn có nguy cơ bị tái nhiễm cả với chủng mới lẫn chủng từng mắc trước đó – ngay cả khi trước đó dường như đã khỏi. Cụ thể, với HPV 16 - chủng gây ra hầu hết các bệnh ung thư liên quan đến HPV - lần nhiễm đầu làm tăng nguy cơ tái nhiễm gấp 20 lần trong vòng một năm, và nguy cơ này vẫn cao hơn 14 lần sau hai năm. Tái nhiễm có thể xảy ra ở cả nam giới hoạt động tình dục lẫn người không có quan hệ tình dục, cho thấy khả năng tự lây nhiễm (autoinoculation) hoặc sự tái hoạt động gián đoạn của ví rút tiềm ẩn, hoặc cả hai.
Những các hỗ trợ làm giảm nguy cơ tái nhiễm và nhiễm mới có thể kể đến bao gồm:
- Duy trì lối sống lành mạnh, bao gồm: không hút thuốc lá, tăng cường vận động thể lực, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng để hỗ trợ miễn dịch.
- Quan hệ tình dục an toàn: Sử dụng bao cao su đúng cách giúp giảm nguy cơ lây nhiễm, dù không bảo vệ hoàn toàn do vi rút có thể lây qua vùng da không được bao phủ.
- Tiêm vắc xin HPV tại các cơ sở y tế
- Cắt bao quy đầu tự nguyện ở nam giới: theo một số nghiên cứu, việc cắt bao quy đầu có thể giảm nguy cơ nhiễm HPV, từ đó gián tiếp hạn chế lây truyền cho bạn tình.
- Tầm soát ung thư cổ tử cung định kỳ: phụ nữ từ 21–65 tuổi nên thăm khám định kỳ và tầm soát ung thư cổ tử cung để phát hiện sớm và xử lý kịp thời các bất thường liên quan đến HPV.
Cảm ơn câu hỏi của bạn. Chúc bạn và gia đình nhiều sức khỏe!
Chào bạn!
HPV là một trong những vi rút lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất trên thế giới. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khoảng 8 trong 10 người có hoạt động tình dục sẽ có nguy cơ nhiễm HPV vào một thời điểm nào đó trong đời, bất kể nam nữ.
Theo số liệu trong giai đoạn 2003–2006 tại Mỹ do CDC khảo sát, gần 50% các trường hợp nhiễm mới HPV xảy ra ở nhóm tuổi từ 15 đến 24. Trong một nghiên cứu tại Mỹ (2013-2014) về tỷ lệ nhiễm vi-rút HPV ở nam và nữ đã quan hệ tình dục từ 14 đến 59 tuổi, tỷ lệ lưu hành HPV đối với nữ giới cao nhất nằm trong độ tuổi từ 20 đến 24 tuổi (62,8%), tiếp theo đó là nhóm tuổi từ 30 - 39 tuổi (38,9%). Theo một nghiên khác tại Mỹ về tỷ lệ nhiễm vi-rút HPV dục và tỷ lệ dự phòng bằng vắc xin HPV ở nam giới từ 14-59 tuổi, nhóm nam lớn tuổi có nguy cơ nhiễm HPV sinh dục cao gấp khoảng 2 lần so với nhóm 18–22 tuổi. Đáng chú ý, nam giới 23–32 tuổi có nguy cơ nhiễm các týp HPV nguy cơ cao ở vùng sinh dục cao hơn rõ rệt..
Mặc dù đa số các trường hợp nhiễm HPV thường không có triệu chứng và có thể tự đào thải. Nhưng việc nhiễm dai dẳng có thể dẫn đến các bệnh lý như mụn cóc sinh dục (hay còn gọi là sùi mào gà), tiền ung thư và ung thư liên quan.
Các chuyên gia khuyến cáo nên chủ động dự phòng HPV bằng các biện pháp theo hướng dẫn từ Bộ Y tế để dự phòng, đồng thời phát hiện sớm và xử lý kịp thời các trường hợp bệnh lý liên quan đến HPV.
- Duy trì lối sống lành mạnh, bao gồm: không hút thuốc lá, tăng cường vận động thể lực, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng để hỗ trợ miễn dịch.
- Quan hệ tình dục an toàn: Sử dụng bao cao su đúng cách giúp giảm nguy cơ lây nhiễm, dù không bảo vệ hoàn toàn do vi rút có thể lây qua vùng da không được bao phủ.
- Tiêm vắc xin HPV tại các cơ sở y tế.
- Cắt bao quy đầu tự nguyện ở nam giới: theo một số nghiên cứu, việc cắt bao quy đầu có thể giảm nguy cơ nhiễm HPV, từ đó gián tiếp hạn chế lây truyền cho bạn tình.
- Tầm soát ung thư cổ tử cung định kỳ: phụ nữ từ 21–65 tuổi nên thăm khám định kỳ và tầm soát ung thư cổ tử cung để phát hiện sớm và xử lý kịp thời các bất thường liên quan đến căn bệnh nguy hiểm này.
Cảm ơn câu hỏi của bạn. Chúc bạn và gia đình nhiều sức khỏe!
Chào bạn!
Ung thư cổ tử cung là bệnh lý ác tính của biểu mô lát (biểu mô vảy) hoặc biểu mô tuyến cổ tử cung, thường gặp từ độ tuổi 30 trở đi, đứng hàng thứ 2 trong các ung thư sinh dục ở nữ giới về tỷ lệ mắc cũng như tỷ lệ tử vong. Theo số liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2022 ghi nhận khoảng 660.000 ca mắc mới và khoảng 350.000 ca tử vong do căn bệnh này trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, ước tính có hơn 4.600 người được chẩn đoán mắc mới các loại ung thư liên quan đến HPV, và có hơn 2.500 trường hợp tử vong do ung thư cổ tử cung được ghi nhận năm 2022.
Nguyên nhân chính gây ra tiền ung thư và ung thư cổ tử cung là nhiễm trùng dai dẳng hoặc mãn tính với một hoặc nhiều chủng vi rút HPV nguy cơ cao.Ngoài ra,HPV cũng là nguyên nhân của khoảng 91% ca ung thư hậu môn, 69% ca ung thư âm hộ, 75% ca ung thư âm đạo.
Vì vậy, theo các chuyên gia y tế, để dự phòng ung thư cổ tử cung và các bệnh lý liên quan đến HPV nên áp dụng các biện pháp, bao gồm:
- Duy trì lối sống lành mạnh, bao gồm: không hút thuốc lá, tăng cường vận động thể lực, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng để hỗ trợ miễn dịch.
- Quan hệ tình dục an toàn: Sử dụng bao cao su đúng cách giúp giảm nguy cơ lây nhiễm, dù không bảo vệ hoàn toàn do vi rút có thể lây qua vùng da không được bao phủ.
- Tiêm vắc xin HPV tại các cơ sở y tế.
- Cắt bao quy đầu tự nguyện ở nam giới: theo một số nghiên cứu, việc cắt bao quy đầu có thể giảm nguy cơ nhiễm HPV, từ đó gián tiếp hạn chế lây truyền cho bạn tình.
- Tầm soát ung thư cổ tử cung định kỳ: phụ nữ từ 21–65 tuổi nên thăm khám định kỳ và tầm soát ung thư cổ tử cung để phát hiện sớm và xử lý kịp thời các bất thường liên quan đến căn bệnh nguy hiểm này.
Cảm ơn câu hỏi của bạn. Chúc bạn và gia đình nhiều sức khỏe!
Chào bạn!
Hiện xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung Pap Smear hoặc Thinprep và xét nghiệm HPV, kết hợp kiểm tra vùng chậu là cách tốt nhất sàng lọc bệnh.
Tầm soát ung thư cổ tử cung thường được khuyến nghị cho phụ nữ từ 21 tuổi trở lên. Phụ nữ 21-29 tuổi cần làm xét nghiệm Pap hoặc Thinprep, sau đó xét nghiệm lại sau mỗi ba năm. Xét nghiệm HPV chưa cần thiết ở giai đoạn này. Trường hợp kết quả Pap hoặc Thinprep bất thường mới cần làm thêm xét nghiệm HPV.
Phụ nữ 30-65 tuổi có thể kết hợp kiểm tra cả hai loại xét nghiệm sau mỗi 5 năm, xét nghiệm Pap hoặc Thinprep mỗi ba năm hoặc xét nghiệm HPV mỗi 5 năm nếu không có triệu chứng bất thường. Bác sĩ cũng có thể chỉ định khám sàng lọc ung thư tùy theo tình trạng sức khỏe.
Người trên 65 tuổi đã khám sàng lọc thường xuyên trong suốt 10 năm, nếu kết quả an toàn, có thể tham khảo ý kiến bác sĩ ngừng sàng lọc. Khi phát hiện dấu hiệu bất thường, người bệnh vẫn có thể sàng lọc sau giai đoạn này.
Người có nguy cơ cao như tiền sử nhiễm HPV, tổn thương tiền ung thư, hệ miễn dịch suy yếu (nhiễm HIV, ghép tạng, dùng thuốc ức chế miễn dịch), sử dụng hormone thay thế cần tầm soát theo lịch trình do bác sĩ chỉ định. Phụ nữ sau phẫu thuật cắt tử cung hoàn toàn không cần thiết sàng lọc. Người đã tiêm vaccine phòng HPV vẫn cần tầm soát kiểm tra cổ tử cung thường xuyên.
Kết quả xét nghiệm sàng lọc cổ tử cung có thể không rõ ràng, do ảnh hưởng của vi rút HPV, nhiễm trùng, mang thai, sử dụng thuốc tránh thai hoặc thay đổi lối sống.
Lúc này các tế bào gần giống bình thường, có khả năng tự mất đi mà không cần điều trị. Nữ giới sẽ cần xét nghiệm xác định lại trong vòng 6 tháng.
Trường hợp bất thường không phải lúc nào cũng là ung thư. Bác sĩ chỉ định thêm các xét nghiệm và điều trị để xác định những thay đổi tế bào này có trở thành ung thư sau đó hay không.
Hãy tham vấn chuyên gia y tế.
Cảm ơn câu hỏi của bạn. Chúc bạn và gia đình nhiều sức khỏe!
Có hơn 200 chủng vi rút HPV đã được xác định, trong đó một số chủng gây mụn cóc sinh dục và ung thư.