Tiền tươi từ du khách
Hồ Quốc Tuấn
Giảng viên cao cấp, Đại học Bristol
Tháng này, một người bạn thân cùng đi từ Anh về Việt Nam với chúng tôi để du lịch. Chỉ sau vài ngày ở TP HCM, ông đã xài hơn 5.000 bảng Anh. Khi giúp ông làm thống kê chi tiêu, vợ tôi buông một câu: "Đi chơi xài hao tiền thiệt ha anh".
Người châu Âu thực dụng có thể không chi khoảng nghìn euro để lắp một cái máy lạnh ít khi phải dùng đến. Nhưng mỗi năm gia đình các bạn bè tôi ở Anh nói riêng và châu Âu nói chung vẫn dành ra một khoản dao động từ 10.000 đến hơn 40.000 bảng Anh để đi du lịch, chủ yếu vì họ đi cả nhà, đi nhiều lần, đi xa.
Đó là hành vi tiêu dùng có tính văn hóa, được hình thành qua nhiều thế hệ ở châu Âu, và nó đang đổ vào nền kinh tế của những quốc gia biết cách đón nhận.
Câu hỏi đặt ra là: Việt Nam làm gì để thu hút và giữ được dòng tiền ấy lâu hơn, nhiều hơn, đều hơn?
Năm 2025, Việt Nam đón hơn 21 triệu lượt khách quốc tế, tăng hơn 20% so với 2024 và vượt cả đỉnh trước đại dịch là khoảng 18 triệu lượt năm 2019.
Đà tăng tiếp tục trong năm 2026. Chỉ trong 5 tháng đầu năm, Việt Nam đón khoảng 10,6 triệu lượt khách quốc tế, tăng khoảng 15% so với cùng kỳ 2025. Du khách châu Âu tăng gần 55%, và tăng trưởng tìm kiếm du lịch Việt Nam của khách Trung Quốc tăng 160%. Đây là nền tảng thuận lợi để hướng tới mục tiêu năm 2026: đón 25 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 150 triệu lượt khách nội địa và đưa tổng thu đạt 1.125 nghìn tỷ đồng.
Lãnh đạo một công ty chứng khoán nói với tôi: "Du lịch là dòng tiền tươi cho nền kinh tế".
Khi nói về mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, người ta nói về hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo, công nghệ bán dẫn. Đó là những trụ cột đúng và cần thiết. Du lịch chỉ được nhắc tới như một dòng phụ, một ngành "có tiềm năng", ít khi được đặt đúng vị trí của một động lực tăng trưởng tức thời, có thể kích hoạt ngay bằng chính sách.
Du lịch tạo ra ngoại tệ và việc làm cùng lúc, mà không đòi hỏi một lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật cao, không cần chu kỳ đầu tư hạ tầng kéo dài hàng chục năm như công nghiệp bán dẫn, và không phụ thuộc vào việc Việt Nam có giành được một vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu hay không. Nhìn vào tăng trưởng, nó chính là ngành tăng trưởng hai con số thực chất.
Hệ sinh thái doanh nghiệp ngành du lịch tạo ra một con số ấn tượng: gần 40.000 doanh nghiệp với hơn 2,5 triệu lao động trực tiếp.
Trong bối cảnh Việt Nam đối mặt với áp lực thuế quan mới từ Mỹ và sự bất định trong các thị trường xuất khẩu thay thế, một nguồn ngoại tệ không chịu thuế quan, không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh thương mại, và có thể tăng trưởng hai con số đều đặn mỗi năm, lại càng đáng được nhìn nhận như một bộ "giảm sốc" có tính chiến lược cho nền kinh tế.
Nhưng mọi câu chuyện không chỉ có một mặt. Các nhà phân tích đã gọi tên một rủi ro chủ yếu mà Việt Nam đang đối mặt - "cái bẫy số lượng": tăng trưởng dựa trên số lượt khách nhiều hơn là mức chi tiêu bình quân, trong khi hạ tầng và chất lượng dịch vụ chưa theo kịp.
Trái lại, đối thủ quan trọng của Việt Nam là Thái Lan, dù đang sụt giảm về lượng khách, vẫn giữ lợi thế về hạ tầng, sản phẩm đa dạng và một hệ sinh thái du lịch đã được xây dựng qua nhiều thập niên, gồm cả chiến lược visa nhằm thu hút nhóm khách lưu trú dài hạn hơn một năm, có thu nhập cao, thay vì chỉ chạy theo số lượng.
Đây chính là điểm mà Việt Nam cần nhìn thẳng: ngành du lịch không thể tiếp tục phát triển theo số lượng khách, mà phải đo lường trên nhiều chỉ tiêu chất lượng như chi tiêu, thời gian lưu trú và khả năng lan tỏa sang các ngành khác.
Trong lĩnh vực hoạt động chính của mình, tôi nhận ra một khu vực thị trường chưa được khuyến khích đúng mức: điểm đến hấp dẫn để tổ chức hội nghị khoa học, công nghệ quy mô lớn với chi phí thấp hơn đáng kể so với Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc hay châu Âu. Trải nghiệm của tôi và một số bạn bè đồng nghiệp cho thấy chi phí của một hội thảo quốc tế tại Việt Nam chỉ bằng 15-40% so với ở các nước trên, nhưng người tham dự có điều kiện tận hưởng sự phong phú về ẩm thực, nghỉ dưỡng.
Điều này nếu kết hợp với việc đầu tư vào các sản phẩm du lịch có chiều sâu: du lịch nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe, văn hóa, ẩm thực thì sẽ giữ chân được khách dự hội thảo lâu hơn. Ví dụ hội thảo diễn ra vào thứ tư, thứ năm, thì người ta sẽ lưu lại thêm ba ngày để nghỉ dưỡng. Mỗi ngày lưu trú là thêm tiền ăn, tiền ở, tiền mua sắm, tiền trải nghiệm, và đó là phần giá trị gia tăng thực sự, hơn hẳn việc chỉ cố gắng tăng số lượt khách.
Quan trọng hơn tăng trưởng là câu chuyện "giữ khách". Nếu không được quan tâm và đầu tư đúng mức, thì dòng tiền du lịch có thể đảo chiều rất nhanh.
Du lịch có ngưỡng gia nhập thấp hơn nhiều ngành công nghệ cao, nhưng muốn bán được giá cao thì cần tới tiêu chuẩn dịch vụ, ngoại ngữ, quản trị và kỹ năng số. Đó cũng là đổi mới sáng tạo, và cũng là động lực tăng trưởng hai con số. Nhưng cần có một chính sách hợp lý cho nó.
Khi nền kinh tế đang tìm mọi cách để bứt tốc, có một dòng tiền đang chảy vào Việt Nam mỗi ngày, và câu hỏi không phải là tại sao người ta xài tiền nhiều như vậy, mà là chúng ta đã sẵn sàng đón nhận nó một cách xứng đáng hay chưa. Người đem dòng ngoại tệ một chiều đến Việt Nam xứng đáng được đối đãi tốt, để họ sẽ còn quay lại như một người bạn.
Hồ Quốc Tuấn