Đường đua Hockenheim
Năm 1939, Mercedes-Benz cho xây dựng một con đường riêng để thử nghiệm các xe đua mới trước khi đưa vào tham dự giải Grand Prix Tripoli. Kết quả là hình thành đường đua Hockenheim, nằm khuất trong các cánh rừng xanh mướt ven bờ sông Rhine.
![]() |
| Đường đua Hockenheim. |
Đường đua có độ dài 7,7 km, với 2 đoạn đường thẳng chạy song song, được nối với nhau thành một vòng khép kín, đầu phía tây nằm sát Hockenheim, chạy vòng quanh nghĩa địa của thị trấn. Chiến tranh thế giới II khiến đường đua rơi vào quên lãng. Những năm thuộc kỷ nguyên hậu chiến, Nurburgring mới là sân khấu chính cho các cuộc đua ôtô tại CHLB Đức. Hockenheim chỉ còn biết tự an ủi với một vài sự kiện thể thao nhỏ lẻ. Cuối những năm 1950, nền kinh tế Đức phát triển nhảy vọt. Các nhà đầu tư rủng rỉnh tiền hơn, mạnh tay hơn trong việc phát triển các xa lộ. Đầu thập kỷ 60, một đường đua mới, chạy cắt ngang Hockenheim cũ, được xây dựng. Tác giả của bản thiết kế này là kiến trúc sư người Hà Lan John Hugenholz. Ông đã tạo nên một công trình hiện đại, dài 6,75 km, với các khán đài lớn, nhiều màu sắc.
Những cuộc tranh tài đầu tiên diễn ra năm 1966 nhưng chỉ tới tháng 4/1968, Hockenheim mới thật sự gây được sự chú ý. Rất không may, nguyên nhân của nó lại là một sự kiện bi thảm: Jim Clark tử nạn khi đang tham dự một cuộc đua Formula 2.
![]() |
| Khán đài chính của Hockenheim. |
Năm 1970, Hockenheim giành quyền đăng cai một chặng của giải F1 vô địch thế giới do Nurburgring khi đó không đảm bảo độ an toàn cho các tay đua. Jochen Rindt đã giành chiến thắng Grand Prix Đức đầu tiên tại đây nhưng chỉ năm sau đó, khi Nurburgring được nâng cấp, Hockenheim lại lui về với vai trò là địa điểm thi đấu của giải đua Formula 2 và các cuộc đấu cấp quốc gia.
Tai nạn của Niki Lauda năm 1976 dẫn đến sự ngắt quãng 7 năm các grand prix không được tổ chức tại Nurburgring và Hockenheim là lựa chọn xứng đáng nhất để thay thế. Người chiến thắng năm 1977 là Niki Lauda, năm tiếp theo đến lượt Mario Andretti thống trị với đội Lotus và năm 1979 là Alan Jones của đội Williams. Năm 1980, một lần nữa Hockenheim lại là bối cảnh của một thảm kịch. Cựu binh Patrick Depailler chết trong một tai nạn khi đang chạy thử xe tại ngã rẽ nối 2 đoạn đường thẳng với nhau. Vào năm 1982, Didier Pironi gặp chấn thương nghiêm trọng ở chân vì đâm vào một xe khác, trong lúc luyện tập dưới trời mưa. Ngày hôm sau, khicuộc đua diễn ra, đồng đội của Pironi - Patrick Tambay - giành thắng lợi cho đội Ferrari.
Sau năm 1985 gián đoạn, từ 1986 đến nay, Grand Prix Đức luôn diễn ra ở Hockenheim. Không có những góc cua gây khó khăn cho các tay đua nhưng chính vì vậy, đường đua này lại là một thử thách độ bền của các động cơ xe. Do liên tục phải đạp hết ga để bám đuổi đối thủ nên thường xuyên xảy ra hiện tượng xe đua các đội chết máy khi tham dự Grand Prix Đức. Năm 1987, Alain Prost hỏng động cơ
![]() |
| Người hâm mộ ăn mừng chiến thắng của Ferrari năm 2002. |
Cuộc đua năm 1994 diễn ra ngoài sức tưởng tượng của giới chuyên môn vì có tới gần một nửa số xe tham dự bị loại khỏi cuộc đua do một loạt các tai nạn ngay ở vòng đầu tiên. Không còn áp lực từ người hùng địa phương Michael Schumacher, Gerhard Berger đưa Ferrari đến vinh quang sau 4 năm chờ đợi. Năm 1995, Damon Hill lao ra khỏi đường trong khi đang dẫn đầu, để chiến thắng rơi vào tay Schumacher, lúc đó đang hướng đến danh hiệu vô địch thế giới lần thứ 2 với đội Benetton. Và từ đây, mỗi grand prix tại Hockenheim đã trở thành một bữa tiệc khổng lồ dành cho người hâm mộ. Những thành công này dẫn đến một kế hoạch tái thiết vào năm 2000, bất chấp sự phản đối của các nhà hoạt động môi trường tại địa phương.
| Một số đặc điểm của đường đua Hockenheim | |
| Chiều dài đường đua | 4,574 km |
| Tổng chiều dài chặng đua | 306,458 km |
| Số vòng đua | 67 vòng |
| Kết quả năm 2002 | 1. Michael Schumacher (Ferrari) 2. Juan Pablo Montoya (Williams) 3. Ralf Schumacher (Williams) |
Thành Lê (theo Encyclopedie F1)


