Đàn bò tót lai quý hiếm trong Vườn quốc gia ở Khánh Hòa
Các cán bộ ở Vườn quốc gia Núi Chúa - Phước Bình nhiều năm nay chăm sóc đàn bò tót lai nhằm bảo tồn, gìn giữ nguồn gene quý hiếm có nguy cơ mai một.
Mỗi sáng, anh Bình Tô Hà Lúc, 28 tuổi, công nhân vườn quốc gia, đẩy xe rơm, cỏ tươi băng qua con đường mòn đến khu vườn thực vật hơn 4 ha, nơi đàn bò tót lai sinh sống.
Anh phụ trách cho đàn ăn ba bữa mỗi ngày, mỗi bữa 6 cuộn rơm và 4 xe cỏ tươi, luôn giữ khoảng cách để không ảnh hưởng đến tập tính hoang dã của chúng. Ngoài anh Lúc, khu chăn nuôi còn có 3 cán bộ kỹ thuật khác thay phiên giám sát, chăm sóc.
Bò tót (gaur) thuộc họ Bovidae, có bộ lông sẫm màu, kích thước lớn, phân bố chủ yếu ở Ấn Độ và Đông Nam Á, nằm trong Sách Đỏ, được pháp luật bảo vệ và cấm săn bắt.
Đàn bò tót lai hiện có 10 con, trong đó có 9 con thế hệ F1 (13-16 tuổi) và một con thế hệ F2. Nguồn gốc của chúng bắt đầu từ năm 2009 khi một con bò tót đực hoang dã nặng gần một tấn thường xuyên xuất hiện tại khu vực nương rẫy thôn Bậc Rây 2, xã Phước Bình (Ninh Thuận cũ), nay là xã Bác Ái Tây (Khánh Hòa). Ban ngày sống ven rừng, chiều tối nó nhập đàn bò nhà. Sau một thời gian, con bò hoang dã này giao phối với bò nhà, tạo ra những con lai đầu tiên.
Đến năm 2014, đàn con lai F1 của bò tót rừng đã lên đến hơn 20 con, vóc dáng và đặc tính hoang dã giống hệt bò rừng. 10 cá thể (5 đực, 5 cái) được mua lại từ dân để phục vụ nghiên cứu, nhân giống, với kỳ vọng lai tạo hàng loạt đàn bò tót F2, mở hướng đi mới cho ngành chăn nuôi.
Đến nay cả 5 con cái F1 vẫn chưa thể sinh sản. Một con đực F1 khi thả rong tình cờ giao phối với bò cái nhà, sinh ra con lai F2 duy nhất. Dự án đã mua lại còn F2 này và nhập đàn khảo nghiệm 2 năm trước.
Đến nay, đã có 3 đề tài khoa học cấp Nhà nước được thực hiện: giám định di truyền và khả năng phát triển (2013-2015), khai thác và phát triển nguồn gen (2015-2019), bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen bò tót lai F1 (2021-2025).
Anh Lúc, công nhân phụ trách cắt cỏ, bổ sung thức ăn tươi cho đàn bò tót lai. Ảnh: Bùi Toàn
Theo Thạc sĩ Nguyễn Anh Tuấn, cán bộ Ban Quản lý Vườn quốc gia Núi Chúa - Phước Bình, trong giai đoạn đầu nghiên cứu, đàn bò từng suy giảm thể trạng nghiêm trọng, gầy trơ xương do điều kiện nuôi nhốt chưa phù hợp, thiếu không gian vận động, thiếu thức ăn và công tác thú y không ổn định.
Đến giai đoạn 2021-2025, đàn bò được chuyển đổi thành tài sản công, giao cho Vườn quốc gia Phước Bình tiếp nhận, điều chỉnh khẩu phần ăn, tiêm phòng định kỳ và mở rộng chuồng trại để duy trì tập tính hoang dã.
Ông Tuấn cho biết, những con đực trong đàn thường xuyên đánh nhau, gây nhiều vết thương, buộc cán bộ phải tự chế gậy nối dài để phun, bôi thuốc từ xa, tránh nguy hiểm. Khi cần tiêm, bò phải được lùa vào chuồng và dùng dụng cụ đặc chế để chích thuốc.
Đến nay, đàn bò đã thích nghi tốt với môi trường sống mới, phần lớn khỏe mạnh, đặc tính hoang dã vẫn giống hệt bò rừng.
Đàn bò tót lai được chăm sóc tại Vườn quốc gia Núi Chúa - Phước Bình, xã Bác Ái Tây. Ảnh: Bùi Toàn
Theo ông Tuấn, hiện tượng lai giữa bò tót và bò nhà rất hiếm gặp, không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Các nghiên cứu trước đây khẳng định bò cái lai thế hệ thứ nhất vẫn có khả năng sinh sản, tạo ra thế hệ mang 25% nguồn gen bò tót (do được phối với bò nhà thuần chủng). Tuy nhiên, ông cho rằng khả năng nhân đàn ở giai đoạn hiện tại vẫn còn hạn chế về mặt di truyền học, cần nghiên cứu sâu hơn. "Nếu mất đàn bò lai này xem như mất đi một nguồn gene quý hiếm và không bao giờ có lại được", ông nói.
Trước thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị và năng lực chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu nghiên cứu chuyên sâu về sinh sản, ông Tuấn cho rằng việc phối hợp với doanh nghiệp, nhà nghiên cứu và các viện chăn nuôi là cấp thiết - đặc biệt khi đàn bò hiện đã 13-16 tuổi, khả năng sinh sản sẽ giảm dần.
Khu chăn nuôi hiện cũng là điểm đến thu hút học sinh, sinh viên và du khách tham quan, tìm hiểu, góp phần nâng cao nhận thức về bảo tồn loài bò tót và đa dạng sinh học.
Đại diện Ban quản lý cho biết đơn vị đã tạm ứng kinh phí bổ sung thức ăn cho đàn, nhưng năng lực tài chính còn hạn chế nên chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu chăm sóc và nghiên cứu. Ban quản lý đang đề xuất UBND tỉnh Khánh Hòa tiếp tục duy trì việc chăm sóc quần thể, đồng thời xây dựng nhiệm vụ khoa học mới kéo dài 36 tháng. Riêng năm 2026, kinh phí chăm sóc, thức ăn, thú y và khu trồng cỏ phục vụ đàn bò dự kiến hơn 311 triệu đồng.
Bùi Toàn