Nếu ngày mai mất việc
Huỳnh Thiện Tống
Kỹ sư IT
Một số người tự nhận đang làm ở Microsoft Việt Nam kể lại trên mạng xã hội rằng họ được mời dự cuộc họp "Cập nhật quan trọng về hoạt động kinh doanh". Yêu cầu có mặt trực tiếp. Có bộ phận nhân sự tham dự.
Một người viết thêm một dòng ngắn trước khi bài viết bị ẩn: cập nhật đó là sa thải các kỹ sư.
Tôi không biết bao giờ sẽ đến lượt mình được mời dự một cuộc họp như thế.
Tôi làm IT cho một doanh nghiệp FDI, chưa bao giờ coi chỗ ngồi của mình là chắc chắn.
Nhìn từ trụ sở, đợt cắt giảm của Microsoft ở Việt Nam không có gì đặc biệt. Cũng trong những ngày này, Microsoft cắt vài chục người ở trung tâm phát triển tại Israel. Đầu tháng 7, hãng công bố giảm khoảng 4.800 vị trí, chừng 2% nhân sự toàn cầu; cuối tháng 9 cắt thêm khoảng 600 người. Người phát ngôn của hãng giải thích công ty thường xuyên điều chỉnh cách tổ chức đội ngũ theo những ưu tiên mới.
Với một tập đoàn, điều chỉnh tổ chức liên tục là cách vận hành hợp lý. Ưu tiên đổi thì sơ đồ tổ chức đổi theo, và không ban lãnh đạo nào giữ một nhóm chỉ vì nhóm đó đã tồn tại. Microsoft cũng khẳng định vẫn giữ cam kết với thị trường Việt Nam và hỗ trợ người bị ảnh hưởng. Nhưng cần đọc cho đúng: cam kết ấy dành cho thị trường. Một hợp đồng lao động, dù ký với tên tuổi lớn đến đâu, chưa bao giờ là lời hứa về một chiếc ghế cố định.
Ngành tôi làm đang đứng đầu danh sách cắt giảm. Ở Mỹ, theo công ty tư vấn nhân sự Challenger, Gray & Christmas, công nghệ là ngành cắt giảm nhiều nhất trong chín tháng đầu năm nay, gần 166.000 vị trí, tức cứ mười người mất việc thì gần ba người thuộc ngành này.
Người làm cho các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam gần như không ai ngồi trong căn phòng nơi những quyết định kiểu này được đưa ra. Tôi cũng vậy. Thứ duy nhất tôi kiểm soát được là mình đang ở trạng thái nào khi lời mời họp ấy đến.
Vậy nên câu hỏi của tôi luôn là: nếu mai mất việc, mình còn lại gì?
Bức tranh chung: theo Cục Thống kê, tỷ lệ thất nghiệp chín tháng năm nay vẫn đứng ở 2,22%, ngang cùng kỳ năm trước. Nhưng con số ấy không nói hết. Chỉ riêng nửa đầu năm, theo Cục Việc làm (Bộ Nội vụ), hơn 373.000 người đã nộp hồ sơ xin hưởng trợ cấp thất nghiệp, tức mỗi tháng hơn 60.000 người rời một chỗ làm có đóng bảo hiểm.
Đó còn là những người có bảo hiểm. Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, cả nước hiện có khoảng 17,6 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, chừng một phần ba số người đang có việc làm. Người đủ điều kiện, khi mất việc, được nhận 60% lương bình quân trong vài tháng. Với nhiều người còn lại, mất việc là phải tự xoay xở cho tới khi có nguồn thu mới. Câu hỏi "mất việc thì còn lại gì", vì thế, không của riêng kỹ sư tập đoàn nào. Người bước ra từ một quán ăn hay từ một văn phòng lớn đều phải tự trả lời nó.
Nếu mất việc là chuyện có thể đến với bất kỳ ai, thì điều đáng nói là nó để lại vết sâu đến đâu.
Hai nhà kinh tế Steven Davis và Till von Wachter đã đo điều đó trên dữ liệu thu nhập của người lao động Mỹ suốt hơn 30 năm. Kết quả công bố năm 2011: lao động nam mất việc trong các đợt sa thải hàng loạt bị hụt phần thu nhập, cộng dồn trong 20 năm sau đó, tương đương gần một năm rưỡi lương; nếu đợt cắt rơi vào lúc thị trường xấu, con số gấp đôi.
Đọc những con số đó, tôi hiểu chuẩn bị tinh thần không phải là bi quan, mà là việc nên làm từ sớm.
Thứ còn lại sau một đợt cắt giảm là những gì mình mang theo được. Ở chỗ làm, tôi được học quy trình làm việc bài bản và cách vận hành hệ thống theo chuẩn chung của ngành. Tôi luôn phải tự rà lại, nếu rời bỏ chỗ này, tôi sẽ mang đi được bao nhiêu kiến thức và kỹ năng (có giá trị, ứng dụng được cho cả nơi khác).
Ranh giới giữa thứ mang theo được và thứ phải để lại không phải lúc nào cũng dễ thấy. Nhà kinh tế Gary Becker, trong cuốn "Human Capital" (Vốn con người, 1964), phân biệt hai loại kỹ năng: loại dùng được ở bất cứ đâu và loại chỉ có giá trị bên trong một doanh nghiệp. Một nhân viên ngân hàng thuộc lòng phần mềm nội bộ, một quản lý cửa hàng rành quy trình riêng của một chuỗi bán lẻ, một kỹ sư giỏi nhất công cụ do chính tập đoàn mình viết ra, đều có thể là người không thể thiếu ở chỗ làm, nhưng sang nơi khác thì phần lớn những gì mình giỏi không còn được tính như trước.
Sẽ có người cho rằng sống với tâm thế sẵn sàng bị cắt là thiếu gắn bó, luôn để sẵn một chân ngoài cửa. Tôi không thấy vậy. Chuẩn bị không có nghĩa là muốn đi. Tôi vẫn làm việc như mọi ngày, chỉ bớt sợ hơn một chút.
Cũng sẽ có người nói đó là chuyện của người có nghề đang được giá. Điều đó đúng một phần: không ai có cùng điểm xuất phát. Nhưng người càng ít lựa chọn càng cần sớm tự hỏi mình còn lại gì, vì mất việc đúng lúc thị trường xấu thì thiệt hại có thể gấp đôi, mà đó cũng là lúc ít lựa chọn nhất.
Người đi làm có thể chuẩn bị năng lực và chút tài chính, nhưng không tự thay được bảo hiểm thất nghiệp, cũng không quyết được chuyện công ty tái cấu trúc. Phần ấy là việc của chính sách và doanh nghiệp.
Phần còn lại nằm trong tay mỗi người. Và có một phép thử không tốn đồng nào: kể lại việc mình làm, như đang ngồi trước một nhà tuyển dụng ở nơi khác. Nếu chỉ kể được tên phần mềm nội bộ và quy trình riêng của chỗ đang ngồi, mà không nắm được nguyên lý chung hoặc các kỹ năng nào khác của nghề, thì đó là lúc nên học thêm, cũng chưa phải lúc hoảng.
Có thể tôi sẽ không bao giờ phải nhận được lời mời dự một cuộc họp "Cập nhật quan trọng về hoạt động kinh doanh".
Nhưng tôi vẫn chuẩn bị như thể ngày mai nó sẽ đến.
Huỳnh Thiện Tống