Nếu Bộ 'đổi luật giữa đường'
Nguyễn Thành Hưng
Giảng viên, Thạc sĩ Chính sách Công
Cháu tôi học từ 7 giờ sáng đến 11 giờ đêm; tháng trước thi IELTS, tháng này bắt đầu ôn SAT, song song luyện đề đánh giá năng lực và học thêm các môn để thi tốt nghiệp.
Mỗi lần tụ tập gia đình, cả nhà lại tranh luận: có cần khổ thế không? Lần nào kết luận cũng là: đại học lắm cửa vào, nhưng không cửa nào chắc chắn, nắm trong tay nhiều 'vé' vẫn hơn.
Ba năm qua, từ khi cháu vào lớp 10 đến nay đã sắp cuối lớp 12, hễ nhắc đến chuyện học của con bé, tranh luận lại bắt đầu, kết luận nhìn chung vẫn thế.
Tôi đem chuyện kể với một người quen, có con học lớp 11, câu trả lời không khác bao nhiêu. Quy chế do Bộ đề ra, không theo không được. Học sinh, phụ huynh căng não tận dụng khía cạnh có lợi nhất cho mình trong cuộc đua. IELTS, SAT và các kỳ đánh giá năng lực là "bảo bối" của thí sinh thành phố - chị nói.
Trong những năm tham gia công việc tuyển sinh ở một trường đại học, mùa nào tôi cũng gặp các phụ huynh hỏi cùng một câu: nên học chứng chỉ gì để có thêm lợi thế, thêm khả năng cộng điểm. Hầu như không ai hỏi, học thêm cái này, cái kia thì con được bổ sung tri thức hay kỹ năng nào.
Dự thảo ngày 17/9 của Bộ Giáo dục và Đào tạo sâu xa là muốn thay đổi tình trạng "mệt mỏi và tốn kém" ấy. Mỗi ngành chỉ còn tối đa ba phương thức xét tuyển năm 2027, một phương thức từ năm 2028. Điểm cộng cho các chứng chỉ, thành tích được đề xuất bỏ hẳn, chưa thấy nêu lộ trình riêng. Nếu văn bản chính thức không có điều khoản chuyển tiếp, khóa của cháu tôi sẽ là khóa đầu tiên không còn điểm cộng. Kết quả IELTS vẫn quy đổi được vào điểm tiếng Anh, nhưng khoản cộng thêm mà cả nhà dùng để "động viên" cháu đi thi thì có thể không còn.
Tôi không bênh điểm cộng.
Mùa tuyển sinh 2026, cả nước chỉ có 5 thí sinh đạt 30/30 ở tổ hợp ba môn thi tốt nghiệp, vậy mà nhiều trường ghi nhận hàng chục hồ sơ chạm hoặc vượt 30 nhờ điểm cộng. Tại một trường y dược lớn ở TP HCM, hơn 40 em đạt 30 điểm nhờ cộng IELTS, còn số em đạt tối đa bằng điểm thi tốt nghiệp chỉ là 3. IELTS phải học ở trung tâm, học phí không rẻ và học sinh nội thành chạm tới nó dễ hơn nhiều so với bạn ở một xã miền núi.
Lợi thế không phải lúc nào cũng nằm ở thành phố. Năm 2021, một trường y hàng đầu ở Hà Nội tuyển 326 thí sinh bằng điểm thi, chỉ 26 em thuộc khu vực 3, tức nội thành - trúng tuyển, trong khi khu vực 1 (vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhất) có 140 em. Học sinh nội thành chỉ cải thiện vị trí khi trường mở phương thức kết hợp chứng chỉ ngoại ngữ. Từ 2023, điểm ưu tiên giảm dần với thí sinh 22,5 điểm trở lên.
Nhưng vì thế chiếc cân tuyển sinh cứ lắc. Phương thức này bớt, phương thức kia thêm, lợi thế chạy từ nhóm này sang nhóm khác, còn các gia đình thì học cách đuổi theo phương thức.
Luật đổi liên tục. Người thắng là người đủ tiền, đủ sức "đặt vé" ở mọi cửa.
Đó là điều làm tôi lo với dự thảo lần này.
Công bằng trong tuyển sinh có hai nửa. Nửa thứ nhất là những người vào cùng một ngành được đo bằng cùng một cây thước. Nửa thứ hai là họ được biết cây thước ấy đủ sớm để chuẩn bị. Dự thảo có vẻ đang chăm chút nửa thứ nhất và bỏ ngỏ nửa thứ hai.
Khóa lớp 12 năm nay chọn môn từ đầu lớp 10, mùa thu 2024. Ba năm đủ để một gia đình dựng xong kế hoạch học tập và chi tiêu, nhưng quá ngắn để xoay lại khi luật đổi ở năm cuối. Còn thời gian để gia đình, nhà trường và xã hội góp ý thì chưa đầy một tuần.
Khóa lớp 11 còn chông chênh hơn. Các em dự tuyển năm 2028, mỗi ngành chỉ còn một phương thức. Nhưng hôm nay chưa ai biết ngành mình muốn học khi ấy sẽ chọn phương thức nào. Không biết "vé" nào còn giá trị thì cách an toàn nhất là mua tất cả.
Cần lưu ý thêm rằng, một phương thức duy nhất vẫn có thể chứa nhiều thành phần, hệ số, điều kiện, như kiểu xét tuyển kết hợp nhiều trường đang dùng. Nếu sự phức tạp chỉ dời từ tên phương thức vào công thức tính điểm, học sinh và phụ huynh lại phải học giải một bài toán mới.
Bộ khẳng định dự thảo không nhằm giảm quyền tự chủ của các trường. Tôi tin đó là ý định thật. Nhưng với nhà trường, tự chủ hay không nằm ở những câu hỏi: trường có được tự quyết số phương thức tuyển sinh, và phương thức đã chọn năm nay có còn được sử dụng vào năm sau?
Quy chế hiện hành ra đời tháng 2/2026, bảy tháng sau đã có dự thảo sửa đổi. Trong khi đó, mở một ngành, xây dựng một kỳ thi hay gây dựng mạng lưới tư vấn đều cần vài mùa tuyển sinh mới có thể đánh giá hiệu quả. Rốt cuộc, các trường cũng bị động như phụ huynh.
Ở Hàn Quốc, luật giáo dục đại học buộc công bố những thay đổi lớn về kỳ thi và tuyển sinh đại học trước bốn năm. Việt Nam cũng cần một mốc đủ dài để luật có trước khi học sinh chọn môn vào đầu lớp 10.
Vậy tháng này, cháu tôi nên ôn tiếp SAT hay dồn sức cho các môn thi tốt nghiệp? Thầy cô chủ nhiệm lớp 12 sẽ khuyên phụ huynh gì trong buổi họp tới? Người làm tuyển sinh ở một trường đại học sẽ ghi gì vào đề án khi chưa biết thông tư chốt ra sao?
Tôi cho rằng, nên làm rõ ngay trong văn bản phần nào áp dụng năm 2027, phần nào áp dụng sau. Nên hạ dần mức cộng cho chứng chỉ từ 2027, rồi bỏ hẳn với khóa vừa vào lớp 10 năm nay, tức mùa tuyển sinh 2029. Nên buộc các trường công bố phương thức của từng ngành cho năm 2028 chậm nhất trước khi học sinh lớp 11 bước vào học kỳ hai. Nên công bố kèm dự thảo một đánh giá tác động lên từng nhóm thí sinh, để người dân thấy cái lợi và cái giá trước khi góp ý.
Về lâu dài, nên dồn sức cho chuẩn đầu ra và kiểm định hơn là loay hoay chỉnh mãi cửa vào.
Dự thảo chưa phải luật và những đứa trẻ - như cháu tôi, con chị bạn tôi - vẫn vừa học đủ thứ, vừa bất an ngóng quyết định của Bộ và các trường.
Nguyễn Thành Hưng