Trưa nay, đi bộ năm phút sang quán cà phê đối diện, tôi đứng chờ đèn đỏ ở nút giao Lê Duẩn - Hai Bà Trưng. Bên cạnh, mấy anh shipper áo ướt đẫm.
Bài viết "Bất bình đẳng điều hòa" trên Góc nhìn gọi cảnh đó là "nghèo khả năng làm mát", và đề xuất nhiều giải pháp: kế hoạch quốc gia chống sóng nhiệt, phòng mát công cộng, ràng buộc trách nhiệm các nền tảng giao hàng. Tất cả đều đáng làm.
Nhưng nhìn anh shipper kia, tôi nghĩ vấn đề không nên dừng ở khung "phân phối lại tiện nghi". Đây không phải chuyện phúc lợi. Đây là chuyện năng suất quốc gia đang bốc hơi mỗi giờ trên các con đường 50°C.
Singapore đã cất cánh từ một thuộc địa nghèo lên trung tâm tài chính toàn cầu trong vòng một thế hệ. Câu chuyện thường được nhắc đến là công nghiệp hóa, nhà ở HDB, giáo dục, chống tham nhũng... Nhưng có một mảnh ít kể tới, được chính Lý Quang Diệu xếp ngang hàng những thứ trên.
Lý Quang Diệu gọi điều hòa là phát minh vĩ đại nhất thế kỷ 20, và ông nói điều đó một cách nghiêm túc. Năm 2009, trả lời tạp chí New Perspectives Quarterly, ông được hỏi điều gì đã giúp Singapore thành công. Câu trả lời ngắn và gây tranh cãi: "Điều hòa không khí". Ông giải thích tiếp: "Nó thay đổi bản chất văn minh bằng cách làm cho phát triển trở nên khả thi ở vùng nhiệt đới. Việc đầu tiên tôi làm khi nhậm chức Thủ tướng là lắp điều hòa cho các tòa nhà công vụ. Đó là chìa khóa của hiệu quả khu vực công".
Lý Quang Diệu không nói chuyện công bằng. Ông không trợ cấp điều hòa cho người nghèo. Ông đặt điều hòa vào trung tâm bộ máy nhà nước vì một lý do thuần kinh tế: không có điều hòa, một thư ký Singapore không thể đánh máy quá hai tiếng giữa trưa nhiệt đới ẩm, và một nền kinh tế không thể vận hành nếu khu vực công ngừng làm việc sáu tiếng mỗi ngày. Điều hòa, trong logic của ông, là hạ tầng năng suất, ngang với điện và nước sạch.
Nhưng rồi đảo quốc dùng điều hòa nhiều hơn hầu hết đô thị trên thế giới, và ấm lên nhanh gấp đôi mức trung bình toàn cầu, theo số liệu của Cơ quan Khí tượng Singapore năm 2023.
Một nghiên cứu năm 2024 của Đại học Quốc gia Singapore (Project HeatSafe) ước tính áp lực nhiệt sẽ làm sụt năng suất lao động trung bình các ngành tới 14% vào năm 2035, nặng nhất là ngành xây dựng, tương đương thiệt hại kinh tế khoảng 1,7 tỷ USD mỗi năm.
Phản ứng của Singapore đáng học không phải vì họ lắp thêm điều hòa, mà vì họ không làm thế. Họ triển khai chương trình Cooling Singapore 2.0 để lập bản đồ nhiệt đô thị toàn đảo, áp dụng chuẩn Green Mark cùng các quy định bắt buộc về hiệu suất năng lượng cho công trình, đồng thời đầu tư mạnh vào hệ thống làm mát khu vực (district cooling). Riêng mạng làm mát tập trung tại Marina Bay được công bố giúp tiết kiệm hơn 40% năng lượng so với hệ thống làm lạnh riêng lẻ ở từng tòa nhà. Logic chính sách không đổi từ năm 1959: bảo vệ năng suất bằng quyết định hạ tầng, không bằng trợ cấp cá nhân.
Việt Nam ở vị trí dễ tổn thương hơn Singapore rất nhiều. Báo cáo "Làm việc trên một hành tinh ấm hơn" của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) xếp Việt Nam vào nhóm các nước nhiệt đới chịu ảnh hưởng nặng nhất từ áp lực nhiệt, cùng với Campuchia, Thái Lan, Bangladesh, Ấn Độ.
Trong kịch bản ấm lên 4°C, ILO ước tính tới 13% giờ công ban ngày của Việt Nam có thể biến mất vào cuối thế kỷ. Trên phạm vi toàn cầu, riêng ngành xây dựng dự kiến mất 19% giờ công vào năm 2030.
Đây không phải các con số phúc lợi. Đây là các con số cạnh tranh.
Bangkok, Manila, Jakarta, Kuala Lumpur đều đối mặt cùng bài toán. Nước nào giải được trước, nước đó giữ được lao động khỏe, giữ được dòng vốn FDI vào sản xuất, giữ được khả năng xây dựng đúng tiến độ trong các dự án hạ tầng lớn. Câu hỏi đúng không phải "ai khổ hơn ai trên cùng một con đường nóng", mà "chúng ta đang đánh rơi bao nhiêu phần trăm GDP mỗi mùa hè, và phần nào của nền kinh tế đang chịu thiệt nặng nhất". Đặt câu hỏi theo cách Lý Quang Diệu năm 1959, danh mục ưu tiên sẽ rất khác.
Một lý do Việt Nam khó giải bài toán này, theo tôi, nằm ở nền kinh tế xe máy.
Xe máy không chỉ là phương tiện. Nó định hình toàn bộ không gian đô thị. Vì xe máy đỗ được trên mọi vỉa hè, len được vào mọi con hẻm, dừng trước mọi mặt tiền, nên mọi mặt đường đều có thể là mặt tiền thương mại. Mọi căn nhà ống đều có thể là cửa hàng, quán ăn, xưởng cơ khí nhỏ, văn phòng. Đây là một nền kinh tế linh hoạt và rẻ, và là một lý do Việt Nam có tỷ lệ tự kinh doanh thuộc nhóm cao nhất thế giới.
Nhưng có một cái giá rất nặng về nhiệt.
Mọi chiến lược chống đảo nhiệt đô thị, ở các thành phố nhiệt đới khác, đều dựa trên giả định: có vùng đệm. Có công viên đủ lớn, có dải đệm xanh giữa khu công nghiệp và khu dân cư, có khu vực không thương mại hóa. Khi nắng đỉnh, người dân có chỗ rút về, và bản thân vùng mát "hạ nhiệt" cho khu xung quanh trong bán kính vài trăm mét. Nghiên cứu ở Singapore ghi nhận hiệu ứng làm mát từ công viên lan tới 300 mét vào các khu nhà ở lân cận.
Hà Nội và TP HCM về cơ bản không còn vùng đệm có ý nghĩa. Cả thành phố là một đảo nhiệt. Mái tôn dãy trọ áp sát chung cư, xưởng inox phả nhiệt qua khe tường nhà dân, đường sáu làn xe nóng 50°C tiếp xúc trực tiếp với mặt tiền nhà phố.
Nếu chấp nhận khung năng suất, tôi thấy có ba ưu tiên nổi rõ.
Tiêu chuẩn cách nhiệt cho công trình phải được đưa vào quy chuẩn xây dựng bắt buộc, áp dụng cho cả nhà trọ và nhà ở dân doanh, không chỉ tòa nhà thương mại, như đã đề cập đến trong bài kể trên.
Hệ thống làm mát tập trung cho cả khu nên là phương án mặc định cho các khu đô thị mới mật độ cao. Việt Nam đang ở thời điểm thuận lợi hiếm có: phần lớn các khu đô thị tương lai vẫn còn trên bản vẽ. Một quy định buộc nghiên cứu phương án làm mát tập trung cho dự án trên một quy mô nhất định sẽ định hình lại bài toán năng lượng đô thị trong 20 năm tới.
Mảng xanh phải được nhìn như hạ tầng khí hậu, không phải tiện ích cảnh quan. Quỹ đất tối thiểu cho cây xanh trong từng phường, hành lang xanh dọc kênh rạch, dải cây bao quanh khu công nghiệp đều phải được luật hóa và bất khả xâm phạm. Khi một công viên bị cắt đi cho dự án bất động sản, không phải một tiện ích biến mất, mà một phần năng suất tương lai bị bán đi.
Câu chuyện Singapore cho thấy lựa chọn về trình tự. Họ trở thành một đô thị điều hòa trước, thắng lớn, rồi mới phát hiện cái giá: thành phố tự đốt nóng chính mình, và giờ phải khắc phục bằng bản đồ nhiệt, hành lang gió, làm mát tập trung, trồng lại cây. Sửa một đô thị đã xây xong bao giờ cũng đắt và chậm hơn thiết kế nó cho đúng ngay từ đầu.
Việt Nam vẫn còn cơ hội không lặp lại trình tự đó. Thay vì để các thành phố dần biến thành đô thị điều hòa rồi loay hoay gỡ, ta có thể chủ động điều hòa đô thị ngay từ khâu quy hoạch: chừa vùng đệm, giữ mảng xanh, đặt chuẩn cách nhiệt, thiết kế những khu dân cư có chỗ cho gió và bóng mát đi qua.
Cùng một thiết bị, hai cách dùng từ, và hai số phận đô thị khác hẳn nhau.
Trịnh Việt Dũng