Chuyên gia: 'Không nên bắt cả thành phố cùng thi hoặc cùng xét'
Thứ hai, 24/8/2026, 06:00 (GMT+7)

Chuyên gia: 'Không nên bắt cả thành phố cùng thi hoặc cùng xét'

TS Hoàng Ngọc Vinh cho rằng Hà Nội nên thi ở trường cạnh tranh cao, bỏ thi nơi đủ chỗ và mở rộng phân luồng thay vì áp đặt một công thức chung.

00:00/00:00
Tốc độ phát  1x
Thanh Phượng

Xem bản chép lời

Thông tin Hà Nội tính tới phương án tiến tới xét tuyển vào lớp 10 tạo ra nhiều ý kiến trái chiều. Đọc các bình luận có thể thấy một tâm lý khá rõ: phụ huynh muốn giảm áp lực của kỳ thi, nhưng lại lo xét tuyển sẽ kéo theo xin điểm, nâng điểm, làm đẹp học bạ và sự chênh lệch trong đánh giá giữa các trường.

Đó thực chất là hai rủi ro mà chính sách phải cùng lúc xử lý. Thi tuyển tạo sức ép học thêm, luyện thi, chi phí và tâm lý nặng nề, trong khi vài bài thi khó phản ánh hết năng lực của học sinh. Xét tuyển có thể giảm quyền lực của một kỳ thi, nhưng nếu dữ liệu học tập chưa đủ tin cậy thì lại phát sinh nguy cơ chạy điểm và thiếu công bằng giữa các trường.

Vì thế, câu hỏi không nên chỉ là thi hay xét, càng không nên tìm một phương thức duy nhất để áp cho tất cả. Điều cần tìm là cách cân bằng hai nhóm rủi ro ấy: giảm được sức ép thi cử nhưng vẫn giữ độ tin cậy và công bằng của tuyển sinh.

  • Vậy cách cân bằng đó là gì?

Đầu tiên theo tôi phải xác định, giảm thi cử là hướng nên kiên trì theo đuổi. Một kỳ thi vài buổi nhưng có thể ảnh hưởng lớn đến con đường học tập đương nhiên tạo sức ép. Cạnh tranh cao kéo theo học thêm, luyện thi, chi phí gia đình; việc dạy học cũng dễ bị cuốn vào “học để thi”. Vài bài thi khó phản ánh hết năng lực, sự tiến bộ hay sở trường. Nhưng thi tuyển có ưu điểm: cùng thời điểm, cùng yêu cầu, cách chấm tương đối thống nhất, thuận lợi khi số người đăng ký vượt xa chỉ tiêu.

  • Cách thức thực hiện của việc giảm thi có thể là thế nào?

Giảm thi không có nghĩa mọi trường đều phải bỏ thi. Mức độ cạnh tranh giữa các trường THPT Hà Nội khác nhau. Nơi đủ chỗ học hoặc cung gần với cầu, không nhất thiết phải tổ chức kỳ thi. Nơi cạnh tranh vừa phải, có thể dùng kết quả học tập trong một quá trình cùng dữ liệu đánh giá chung tin cậy. Với trường cầu vượt cung rất lớn hoặc có tính chất đặc thù, thi tuyển hoặc kết hợp thi với xét vẫn có thể cần thiết. Nhất quán về mục tiêu giảm thi cử không đồng nghĩa với đồng nhất về công cụ.

  • Như vậy theo quan điểm của ông là vẫn tồn tại xét tuyển và thi tuyển. Vậy trở lại vấn đề xét tuyển làm sao tránh được mối lo như phụ huynh bày tỏ cho dù lúc này ta có thu hẹp lại diện xét tuyển?

Trước hết phải nói là xét tuyển có lợi thế là nhìn được cả một quá trình thay vì trao quá nhiều quyền cho vài giờ thi. Điều này phù hợp với Chương trình GDPT 2018, hướng tới phát triển phẩm chất và năng lực. Đánh giá quá trình trước hết phục vụ dạy và học: giúp giáo viên điều chỉnh việc dạy, giúp học sinh nhận ra điểm mạnh, điểm yếu, đồng thời cung cấp dữ liệu cho quản lý.

Nhưng nếu điểm học bạ trở thành “tấm vé” cạnh tranh vào lớp 10, nó cũng có thể thành một cuộc đua khác. Mặt bằng đánh giá giữa các trường chưa đồng đều; cách ra đề, chấm điểm, mức độ nghiêm ngặt có thể khác nhau. Một điểm 9 ở trường này chưa chắc tương đương điểm 9 ở trường khác. Lo ngại xin điểm, nâng điểm hay làm đẹp học bạ vì thế không phải vô cớ.

Không nên vì sợ học bạ mà coi thi tuyển là con đường duy nhất, cũng không nên vì muốn giảm thi mà chuyển toàn bộ sang xét học bạ. Không phương thức nào miễn nhiễm với rủi ro. Hợp lý hơn là giảm quyền lực của một nguồn dữ liệu duy nhất - đó là cùng lúc tồn tại cả xét tuyển và thi tuyển và tăng độ tin cậy của hệ thống đánh giá.

  • Như vậy vấn đề lúc này nằm ở cách đánh giá học sinh. Cụ thể làm thế nào để tăng độ tin cậy?

Nếu Hà Nội tổ chức các đợt đánh giá chung ở THCS, chúng không nên chỉ nhằm “xác thực học bạ” để tuyển sinh. Nếu được thiết kế tốt, những đánh giá này còn giúp đối chiếu kết quả giữa các trường, phát hiện độ lệch bất thường, hiệu chuẩn mặt bằng đánh giá và phục vụ quản trị chất lượng.

Điều cần tránh là biến đánh giá trong nhà trường thành hệ thống thu gom điểm số để cạnh tranh vào lớp 10. Nếu từ lớp 6 học sinh đã biết mỗi bài đánh giá đều có thể ảnh hưởng đến tuyển sinh, học thêm và luyện đề sẽ bám theo. Khi ấy, bỏ một kỳ thi vào tháng 6 có thể lại biến bốn năm THCS thành một chuỗi kỳ thi nhỏ.

  • Có mô hình nào trong và ngoài nước mà Hà Nội có thể tham khảo?

Thực ra ngay quy định hiện hành của Việt Nam đã không đóng khung một phương thức. Quy chế tuyển sinh cho phép ba cách: thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp thi tuyển với xét tuyển. Năm 2026, Cà Mau không tổ chức thi với các trường THPT thông thường nhưng vẫn thi tuyển vào hai trường chuyên. Ngay tại Hà Nội, trong khi THPT công lập không chuyên sử dụng kỳ thi chung, các trường công lập chất lượng cao và tư thục có thể có phương án sử dụng kết quả kỳ thi hoặc xét kết quả rèn luyện, học tập ở THCS.

Ở nước ngoài cũng không nhất thiết chỉ có một cách. Hệ thống trường công New York hiện sử dụng nhiều phương thức tùy chương trình: có nơi tuyển mở hoặc theo khu vực, có chương trình xét kết quả học tập, nơi kết hợp thêm đánh giá, trường nghệ thuật tuyển qua biểu diễn hoặc hồ sơ năng khiếu; các trường trung học chuyên biệt lại sử dụng kỳ thi SHSAT. Tôi không nghĩ Hà Nội nên sao chép New York. Điều đáng tham khảo là tư duy: mục đích và mức độ cạnh tranh khác nhau thì công cụ tuyển sinh có thể khác nhau, miễn luật chơi rõ và dữ liệu đủ tin cậy.

  • Về lâu dài, chúng ta nên tính đến bài toán gì? Đủ trường, đủ lớp có phải là vấn đề gốc?

Đúng, cung – cầu là phần gốc của áp lực tuyển sinh, nhưng đủ chỗ học chưa phải là tất cả. Còn phải có những chỗ học có chất lượng và đủ đa dạng để gia đình thấy rằng ngoài một số trường THPT đang được săn đón vẫn còn những con đường tốt khác.

Nghị quyết 71 đặt mục tiêu đến năm 2030 ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành THPT và tương đương, đến năm 2035 phổ cập THPT và tương đương. Hai chữ “tương đương” rất quan trọng. Không nên hiểu phổ cập trung học bậc cao là mọi học sinh đều phải đi qua cùng một con đường THPT học thuật.

Cần phát triển mạnh tuyến trung học nghề hoặc các chương trình nghề tương đương có chất lượng, có đường học tiếp và gắn với việc làm. Đây không phải lựa chọn bên lề. Theo OECD, năm 2023, bình quân 44% học sinh trung học bậc cao ở các nước thành viên học chương trình nghề; tại một số nước phát triển, tỷ lệ này vượt hai phần ba.

Khi THPT và các con đường trung học nghề đều đủ sức hấp dẫn, áp lực phải chen vào một số trường sẽ giảm. Lúc đó giảm thi mới đi vào phần gốc của vấn đề, thay vì chỉ thay một kỹ thuật tuyển sinh bằng một kỹ thuật khác.

Có thể bắt đầu từ một nguyên tắc đơn giản: nơi nào không cần tuyển chọn thì đừng bắt học sinh phải thi; nơi nào cạnh tranh cao mới dùng công cụ tuyển chọn đủ tin cậy. Đừng để cả hệ thống bị dẫn dắt bởi một kỳ thi, nhưng cũng đừng đổi áp lực thi cử lấy một cuộc chạy đua điểm số kéo dài từ lớp 6.

Về lâu dài, giảm áp lực tuyển sinh lớp 10 phải đặt trong mục tiêu rộng hơn là mở rộng cơ hội học tập sau THCS. Nghị quyết 71 đặt mục tiêu đến năm 2030 ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành THPT và tương đương, tiến tới năm 2035 phổ cập THPT và tương đương. Hai chữ “tương đương” rất quan trọng: không nên hiểu phổ cập trung học bậc cao là tất cả học sinh đều phải đi qua THPT học thuật.

Cần phát triển mạnh cả trung học nghề, tạo ra những con đường khác nhau nhưng có giá trị học tập, cơ hội học tiếp và việc làm đủ sức hấp dẫn. Đây không phải lựa chọn riêng của vài quốc gia. Theo OECD, năm 2023, bình quân 44% học sinh trung học bậc cao ở các nước thành viên học chương trình nghề; tại một số nước phát triển, tỷ lệ này vượt hai phần ba. Điều đáng tham khảo là cách nhìn: sau THCS không chỉ có một con đường.

Khi THPT và trung học nghề có chất lượng và được xã hội tin cậy, sức ép phải chen vào một số trường THPT sẽ giảm; yêu cầu giảm áp lực thi cử, minh bạch tuyển sinh cũng có điều kiện đi vào thực chất. Hà Nội vì thế không nhất thiết phải lựa chọn giữa hai cực: hoặc toàn thành phố thi, hoặc toàn thành phố xét. Có thể bắt đầu từ nguyên tắc thực tế hơn: nơi nào không cần tuyển chọn thì đừng bắt học sinh phải thi; nơi nào cạnh tranh cao mới sử dụng công cụ tuyển chọn đủ tin cậy.

Chính sách tốt không nằm ở một phương thức duy nhất cho tất cả, mà ở khả năng kết hợp các cách khác nhau để giảm áp lực, giữ công bằng và tạo niềm tin cho phụ huynh.

  • Xin cảm ơn ông!

Xem tiếp

Bản chép lời

0:00/0:00

Thông tin Hà Nội tính tới phương án tiến tới xét tuyển vào lớp 10 tạo ra nhiều ý kiến trái chiều. Đọc các bình luận có thể thấy một tâm lý khá rõ: phụ huynh muốn giảm áp lực của kỳ thi, nhưng lại lo xét tuyển sẽ kéo theo xin điểm, nâng điểm, làm đẹp học bạ và sự chênh lệch trong đánh giá giữa các trường.

Đó thực chất là hai rủi ro mà chính sách phải cùng lúc xử lý. Thi tuyển tạo sức ép học thêm, luyện thi, chi phí và tâm lý nặng nề, trong khi vài bài thi khó phản ánh hết năng lực của học sinh. Xét tuyển có thể giảm quyền lực của một kỳ thi, nhưng nếu dữ liệu học tập chưa đủ tin cậy thì lại phát sinh nguy cơ chạy điểm và thiếu công bằng giữa các trường.

Vì thế, câu hỏi không nên chỉ là thi hay xét, càng không nên tìm một phương thức duy nhất để áp cho tất cả. Điều cần tìm là cách cân bằng hai nhóm rủi ro ấy: giảm được sức ép thi cử nhưng vẫn giữ độ tin cậy và công bằng của tuyển sinh.

  • Vậy cách cân bằng đó là gì?

Đầu tiên theo tôi phải xác định, giảm thi cử là hướng nên kiên trì theo đuổi. Một kỳ thi vài buổi nhưng có thể ảnh hưởng lớn đến con đường học tập đương nhiên tạo sức ép. Cạnh tranh cao kéo theo học thêm, luyện thi, chi phí gia đình; việc dạy học cũng dễ bị cuốn vào “học để thi”. Vài bài thi khó phản ánh hết năng lực, sự tiến bộ hay sở trường. Nhưng thi tuyển có ưu điểm: cùng thời điểm, cùng yêu cầu, cách chấm tương đối thống nhất, thuận lợi khi số người đăng ký vượt xa chỉ tiêu.

  • Cách thức thực hiện của việc giảm thi có thể là thế nào?

Giảm thi không có nghĩa mọi trường đều phải bỏ thi. Mức độ cạnh tranh giữa các trường THPT Hà Nội khác nhau. Nơi đủ chỗ học hoặc cung gần với cầu, không nhất thiết phải tổ chức kỳ thi. Nơi cạnh tranh vừa phải, có thể dùng kết quả học tập trong một quá trình cùng dữ liệu đánh giá chung tin cậy. Với trường cầu vượt cung rất lớn hoặc có tính chất đặc thù, thi tuyển hoặc kết hợp thi với xét vẫn có thể cần thiết. Nhất quán về mục tiêu giảm thi cử không đồng nghĩa với đồng nhất về công cụ.

  • Như vậy theo quan điểm của ông là vẫn tồn tại xét tuyển và thi tuyển. Vậy trở lại vấn đề xét tuyển làm sao tránh được mối lo như phụ huynh bày tỏ cho dù lúc này ta có thu hẹp lại diện xét tuyển?

Trước hết phải nói là xét tuyển có lợi thế là nhìn được cả một quá trình thay vì trao quá nhiều quyền cho vài giờ thi. Điều này phù hợp với Chương trình GDPT 2018, hướng tới phát triển phẩm chất và năng lực. Đánh giá quá trình trước hết phục vụ dạy và học: giúp giáo viên điều chỉnh việc dạy, giúp học sinh nhận ra điểm mạnh, điểm yếu, đồng thời cung cấp dữ liệu cho quản lý.

Nhưng nếu điểm học bạ trở thành “tấm vé” cạnh tranh vào lớp 10, nó cũng có thể thành một cuộc đua khác. Mặt bằng đánh giá giữa các trường chưa đồng đều; cách ra đề, chấm điểm, mức độ nghiêm ngặt có thể khác nhau. Một điểm 9 ở trường này chưa chắc tương đương điểm 9 ở trường khác. Lo ngại xin điểm, nâng điểm hay làm đẹp học bạ vì thế không phải vô cớ.

Không nên vì sợ học bạ mà coi thi tuyển là con đường duy nhất, cũng không nên vì muốn giảm thi mà chuyển toàn bộ sang xét học bạ. Không phương thức nào miễn nhiễm với rủi ro. Hợp lý hơn là giảm quyền lực của một nguồn dữ liệu duy nhất - đó là cùng lúc tồn tại cả xét tuyển và thi tuyển và tăng độ tin cậy của hệ thống đánh giá.

  • Như vậy vấn đề lúc này nằm ở cách đánh giá học sinh. Cụ thể làm thế nào để tăng độ tin cậy?

Nếu Hà Nội tổ chức các đợt đánh giá chung ở THCS, chúng không nên chỉ nhằm “xác thực học bạ” để tuyển sinh. Nếu được thiết kế tốt, những đánh giá này còn giúp đối chiếu kết quả giữa các trường, phát hiện độ lệch bất thường, hiệu chuẩn mặt bằng đánh giá và phục vụ quản trị chất lượng.

Điều cần tránh là biến đánh giá trong nhà trường thành hệ thống thu gom điểm số để cạnh tranh vào lớp 10. Nếu từ lớp 6 học sinh đã biết mỗi bài đánh giá đều có thể ảnh hưởng đến tuyển sinh, học thêm và luyện đề sẽ bám theo. Khi ấy, bỏ một kỳ thi vào tháng 6 có thể lại biến bốn năm THCS thành một chuỗi kỳ thi nhỏ.

  • Có mô hình nào trong và ngoài nước mà Hà Nội có thể tham khảo?

Thực ra ngay quy định hiện hành của Việt Nam đã không đóng khung một phương thức. Quy chế tuyển sinh cho phép ba cách: thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp thi tuyển với xét tuyển. Năm 2026, Cà Mau không tổ chức thi với các trường THPT thông thường nhưng vẫn thi tuyển vào hai trường chuyên. Ngay tại Hà Nội, trong khi THPT công lập không chuyên sử dụng kỳ thi chung, các trường công lập chất lượng cao và tư thục có thể có phương án sử dụng kết quả kỳ thi hoặc xét kết quả rèn luyện, học tập ở THCS.

Ở nước ngoài cũng không nhất thiết chỉ có một cách. Hệ thống trường công New York hiện sử dụng nhiều phương thức tùy chương trình: có nơi tuyển mở hoặc theo khu vực, có chương trình xét kết quả học tập, nơi kết hợp thêm đánh giá, trường nghệ thuật tuyển qua biểu diễn hoặc hồ sơ năng khiếu; các trường trung học chuyên biệt lại sử dụng kỳ thi SHSAT. Tôi không nghĩ Hà Nội nên sao chép New York. Điều đáng tham khảo là tư duy: mục đích và mức độ cạnh tranh khác nhau thì công cụ tuyển sinh có thể khác nhau, miễn luật chơi rõ và dữ liệu đủ tin cậy.

  • Về lâu dài, chúng ta nên tính đến bài toán gì? Đủ trường, đủ lớp có phải là vấn đề gốc?

Đúng, cung – cầu là phần gốc của áp lực tuyển sinh, nhưng đủ chỗ học chưa phải là tất cả. Còn phải có những chỗ học có chất lượng và đủ đa dạng để gia đình thấy rằng ngoài một số trường THPT đang được săn đón vẫn còn những con đường tốt khác.

Nghị quyết 71 đặt mục tiêu đến năm 2030 ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành THPT và tương đương, đến năm 2035 phổ cập THPT và tương đương. Hai chữ “tương đương” rất quan trọng. Không nên hiểu phổ cập trung học bậc cao là mọi học sinh đều phải đi qua cùng một con đường THPT học thuật.

Cần phát triển mạnh tuyến trung học nghề hoặc các chương trình nghề tương đương có chất lượng, có đường học tiếp và gắn với việc làm. Đây không phải lựa chọn bên lề. Theo OECD, năm 2023, bình quân 44% học sinh trung học bậc cao ở các nước thành viên học chương trình nghề; tại một số nước phát triển, tỷ lệ này vượt hai phần ba.

Khi THPT và các con đường trung học nghề đều đủ sức hấp dẫn, áp lực phải chen vào một số trường sẽ giảm. Lúc đó giảm thi mới đi vào phần gốc của vấn đề, thay vì chỉ thay một kỹ thuật tuyển sinh bằng một kỹ thuật khác.

Có thể bắt đầu từ một nguyên tắc đơn giản: nơi nào không cần tuyển chọn thì đừng bắt học sinh phải thi; nơi nào cạnh tranh cao mới dùng công cụ tuyển chọn đủ tin cậy. Đừng để cả hệ thống bị dẫn dắt bởi một kỳ thi, nhưng cũng đừng đổi áp lực thi cử lấy một cuộc chạy đua điểm số kéo dài từ lớp 6.

Về lâu dài, giảm áp lực tuyển sinh lớp 10 phải đặt trong mục tiêu rộng hơn là mở rộng cơ hội học tập sau THCS. Nghị quyết 71 đặt mục tiêu đến năm 2030 ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành THPT và tương đương, tiến tới năm 2035 phổ cập THPT và tương đương. Hai chữ “tương đương” rất quan trọng: không nên hiểu phổ cập trung học bậc cao là tất cả học sinh đều phải đi qua THPT học thuật.

Cần phát triển mạnh cả trung học nghề, tạo ra những con đường khác nhau nhưng có giá trị học tập, cơ hội học tiếp và việc làm đủ sức hấp dẫn. Đây không phải lựa chọn riêng của vài quốc gia. Theo OECD, năm 2023, bình quân 44% học sinh trung học bậc cao ở các nước thành viên học chương trình nghề; tại một số nước phát triển, tỷ lệ này vượt hai phần ba. Điều đáng tham khảo là cách nhìn: sau THCS không chỉ có một con đường.

Khi THPT và trung học nghề có chất lượng và được xã hội tin cậy, sức ép phải chen vào một số trường THPT sẽ giảm; yêu cầu giảm áp lực thi cử, minh bạch tuyển sinh cũng có điều kiện đi vào thực chất. Hà Nội vì thế không nhất thiết phải lựa chọn giữa hai cực: hoặc toàn thành phố thi, hoặc toàn thành phố xét. Có thể bắt đầu từ nguyên tắc thực tế hơn: nơi nào không cần tuyển chọn thì đừng bắt học sinh phải thi; nơi nào cạnh tranh cao mới sử dụng công cụ tuyển chọn đủ tin cậy.

Chính sách tốt không nằm ở một phương thức duy nhất cho tất cả, mà ở khả năng kết hợp các cách khác nhau để giảm áp lực, giữ công bằng và tạo niềm tin cho phụ huynh.

  • Xin cảm ơn ông!