Bằng cấp của bác sĩ
Quan Thế Dân
Bác sĩ, Tiến sĩ Y học
Bố tôi tốt nghiệp tú tài năm 1954, năm sau ghi danh học y.
Hồi đó, ai có bằng tú tài thì được ghi danh, học khóa dự bị PCB, gồm ba môn, vật lý (Physique), hóa học (Chemie), sinh học (Biology). Tuy trường y đã chuyển sang chính quyền mới nhưng nhiều giáo trình, tên các môn học vẫn gọi theo thói quen bằng tiếng Pháp. Hết năm, lớp PCB lại thi và thường bị đánh trượt rất nhiều, ai đậu mới được học y tiếp.
Bố may mắn vượt qua được năm PCB, đậu hạng "Thứ". Học đến hết năm thứ năm thì bố và năm người nữa được phân vào chuyên khoa thần kinh, do bác sĩ Nguyễn Quốc Ánh dạy. Thầy Ánh mới từ Pháp về, chưa soạn kịp giáo trình tiếng Việt, nên để mấy cuốn sách thần kinh dày cộp bằng tiếng Pháp lên bàn cho sinh viên tự đọc, rồi thầy giảng thêm.
Lứa bác sĩ những năm đó ra trường hầu hết được giữ lại ở bệnh viện Bạch Mai hoặc một vài viện lớn khác, là những lứa bác sĩ đầu tiên của các chuyên khoa sau này. Họ là "thế hệ vàng" của ngành y Việt Nam. Ai cũng biết vài ngoại ngữ, ai cũng mẫu mực, liêm khiết.
Đấy chính là những thế hệ giáo sư - bác sĩ đầu tiên, chưa có giáo sư - tiến sĩ như sau này. Hầu hết được phong phó giáo sư rồi giáo sư vào giữa những năm 1980. Thủ tục bình xét cũng còn lỏng lẻo, có nơi làm thoáng, có nơi làm chặt, tùy quan điểm của người đứng đầu.
Bố tôi được bình chọn ở khoa nhưng lên bệnh viện thì bị gạt đi. Trong khi đó, ở viện khác, bạn bè cùng khóa với bố được phong phó giáo sư hết.
Sau này, khi đang là trưởng bộ môn của trường Đại học Y Cần Thơ, bố tôi được trường cử đi học để lấy bằng sau đại học. Có hai lựa chọn. Một là học một tháng rồi viết bài thu hoạch để lấy bằng chuyên khoa cấp 2. Hai là học một năm để viết luận án lấy bằng tiến sĩ.
Bố sắp nghỉ hưu nên chọn làm văn bằng chuyên khoa cấp 2 cho đỡ vất vả. Lúc đó bằng chuyên khoa 2 được giải thích là cũng gần tương đương tiến sĩ. Sau này về già, ông hối tiếc. Nhiều lúc ông hỏi tôi: "Có cách nào đổi bằng chuyên khoa hai sang tiến sĩ được không?".
Tôi kể lại chuyện bằng cấp của một thầy thuốc lão thành nhân dịp từ đầu tháng 6 đến nay, các diễn đàn y khoa sôi nổi bàn về dự thảo Thông tư của Bộ Y tế, điều chỉnh các văn bằng chuyên khoa.
Anh em trong ngành có nhiều lo lắng và băn khoăn về dự thảo, thậm chí có ý kiến tỏ ra phiền trách rằng bây giờ yêu cầu quá nhiều bằng cấp, làm khó bác sĩ.
Nhưng khi nghe tôi kể lại câu chuyện trên, các bác sĩ trẻ sẽ thích một nền y tế thoải mái hay một nền y tế khắt khe với bằng cấp?
Nền y tế tiến bộ là nền y tế đòi hỏi nhiều bằng cấp. Đừng tự huyễn hoặc rằng tôi tự trau dồi y thuật giỏi là được, không cần chạy theo bằng cấp. Nếu không có một tổ chức đứng ra kiểm định và cấp bằng, ai chứng nhận là anh giỏi. Nếu ai cũng tự xưng là mình giỏi thì ngành y cũng giống như tình trạng quảng cáo trên mạng hiện nay, ai cũng "nhà tôi ba đời làm thuốc". Bằng cấp chính là sự kiểm định của xã hội về chất lượng người thầy thuốc, giúp bảo vệ người bệnh.
Y tế Việt Nam trong quá trình phát triển đã thử nghiệm nhiều mô hình khác nhau, dần dần mới đi đến con đường phát triển nhất quán hơn.
Từ một trường y ban đầu bây giờ đã tách ra thành y đa khoa, nha khoa, y học cổ truyền, y học dự phòng. Sau đại học lần lượt có hệ bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa cấp 1 và 2, hệ thạc sĩ - tiến sĩ.
Trong khi hệ nội trú được coi là tinh hoa của ngành y, thì hệ bác sĩ chuyên khoa 1, 2 và hệ thạc sĩ - tiến sĩ từng có lúc trùng lắp, giẫm chân nhau, ít nhiều làm rối lựa chọn của bác sĩ trẻ, cũng như gây bối rối cho người bệnh.
Dự thảo này theo tôi sẽ kết thúc cuộc tranh luận kéo dài hơn 30 năm giữa Bộ Y tế và Bộ Giáo dục về cách nhìn nhận hệ thống bằng cấp ngành Y, đồng thời vạch ra lộ trình nghề nghiệp cho bác sĩ như sau:
Sau sáu năm đại học, người học sẽ được cấp bằng bác sĩ chung. Nếu muốn tiến sâu về tay nghề, phải học tiếp ba năm bác sĩ nội trú hoặc bác sĩ chuyên khoa. Đây là chuẩn về năng lực thực hành lâm sàng, đảm bảo cho bác sĩ đứng độc lập điều trị cho bệnh nhân, được xếp bậc 7 trong Khung trình độ Quốc gia, chuyên về thực hành.
Nếu muốn đi tiếp vào những mũi nhọn y khoa, sẽ có các chương trình đào tạo cấp chứng chỉ chuyên khoa sâu, thời gian học ngắn hơn, chỉ một năm.
Bác sĩ cũng có thể theo con đường nghiên cứu với việc học thạc sĩ (bậc 7 khung trình độ quốc gia) và tiến sĩ (bậc 8 khung trình độ quốc gia).
Lộ trình này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế, bác sĩ sẽ phát triển nghề nghiệp theo hai hướng, làm lâm sàng trong bệnh viện hay là làm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Trên thế giới, bằng Doctor of Medical (MD) về lâm sàng hay bằng Doctor of Phylosophy (PhD) về y sinh, khi dịch ra tiếng Việt đều được gọi là tiến sĩ y học, đều danh giá cả.
Mà theo tôi giỏi nhất là những ai có cả hai bằng này. Trên các tạp chí y khoa quốc tế ta sẽ gặp nhiều tác giả có học vị kép như vậy, PhD.MD.
Nếu con đường này được áp dụng triệt để thì khi đó, tiến sĩ y khoa muốn kê đơn thuốc trong bệnh viện cũng phải có bằng chuyên khoa, tránh tình trạng sùng bái học vị như hiện nay, coi tiến sĩ là biết tất, được làm tất. Ngược lại người có bằng chuyên khoa muốn được phong học hàm phó giáo sư, giáo sư thì phải theo con đường nghiên cứu để có bằng tiến sĩ trước đã.
Như thế thì quả thật ngành y là ngành vất vả, nhiều bằng cấp, học tập suốt đời. Đổi lại người dân sẽ được hưởng lợi rất nhiều từ lộ trình nghề nghiệp minh bạch này.
Quan Thế Dân