Cẩm nang Net Zero

10 quốc gia thải khí nhà kính lớn nhất thay đổi ra sao sau nửa thế kỷ?

Sau nửa thế kỷ, cục diện phát thải khí nhà kính toàn cầu xoay trục từ châu Âu sang châu Á, trong đó Trung Quốc có lượng thải gần gấp 3 lần Mỹ.

Hơn 50 năm trước, lượng khí nhà kính toàn cầu chủ yếu đến từ các nền kinh tế phát triển. Khi đó, Mỹ là nước gây ô nhiễm lớn nhất thế giới, với lượng khí thải gấp ba lần Trung Quốc. Theo thời gian, cán cân phát thải đã xoay trục.

Theo tính toán độc lập của nhóm nhà khoa học Trung tâm Nghiên cứu Liên hợp (JRC, trực thuộc Ủy ban châu Âu) và Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), cột mốc xoay chuyển diễn ra vào đầu những năm 2000, khi Trung Quốc và các nền kinh tế mới nổi đẩy mạnh sản xuất năng lượng, công nghiệp.

Ví dụ, năm 2004, Trung Quốc phát thải vượt Mỹ. Ấn Độ thải khí nhà kính nhiều hơn Nga vào 2006, còn Indonesia gia nhập top 10 quốc gia phát thải lớn nhất toàn cầu hai năm sau đó.

Tính đến năm 2024, Trung Quốc giữ vững vị trí nước phát thải lớn nhất thế giới, với 15,5 tỷ tấn CO2e, gần gấp 3 lần Mỹ. Ấn Độ thải 4,4 tỷ tấn CO2e, ở vị trí thứ 3. Khí nhà kính từ Trung Quốc, Ấn Độ trong năm này cao lần lượt gấp 3 và 4 lần so với lượng khí thải của họ vào 1990 (năm cơ sở trong các báo cáo khí hậu).

Xét về tỷ trọng, phát thải của Trung Quốc chiếm 29,2% tổng khí thải toàn cầu năm 2024, tăng mạnh so với mức 11,5% nửa thế kỷ trước. Họ đặt mục tiêu đạt đỉnh phát thải trước năm 2030, tiến tới phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào 2060.

Ngược lại, từ năm 2022, các nước Liên minh châu Âu (EU) lần lượt rời khỏi danh sách 10 nước phát thải nhiều nhất. Năm 2024, khối này giảm thải gần 35% so với thời điểm 1990.

Chẳng hạn, Pháp và Monaco từng phát thải lớn thứ 11 thế giới vào năm 1990, nhưng hiện đứng thứ 25 nhờ giảm 29% khí thải. Theo phương pháp tính của JRC và IEA, Monaco được cộng gộp khí thải vào Pháp, bởi lượng phát thải không đáng kể và tính phụ thuộc vào nước láng giềng.

Trong giai đoạn 1970-2024, nhiều nền kinh tế từng ô nhiễm top 10 đạt tốc độ giảm thải khác nhau. Đức giảm một nửa khí thải, Anh 56%, Ukraine thậm chí hạ tới gần 70%.

Tính chung trên toàn cầu, khí nhà kính đã cao gấp đôi sau nửa thế kỷ, lên 53,2 tỷ tấn CO2e, với chiều hướng liên tục gia tăng (trừ hai lần giảm do khủng hoảng tài chính toàn cầu 2009 và Covid-19). Mức tăng chủ yếu đến từ hoạt động khai thác và sử dụng nhiên liệu hóa thạch.

Chuỗi dữ liệu phát thải các nước được JRC và IEA tính toán vào cuối năm 2025, đưa vào báo cáo Cơ sở dữ liệu phát thải phục vụ nghiên cứu khí quyển toàn cầu (EDGAR). Tính toán của nhóm tác giả dựa trên nhiều nguồn thống kê quốc tế, gồm IEA, Ngân hàng Thế giới (WB).

Dữ liệu quốc gia là khoảng trống trong lộ trình giảm thải toàn cầu, do sự khác biệt về quy trình báo cáo và phương pháp luận. Nhằm đảm bảo tính đo lường, Liên Hợp Quốc yêu cầu gần 200 nước tham gia Thỏa thuận Khí hậu Paris đệ trình báo cáo minh bạch mỗi hai năm (BTR), gồm dữ liệu kiểm kê khí thải quốc gia, tiến độ thực hiện cam kết giảm thải, bắt đầu từ năm 2024. Tính đến cuối năm ngoái, mới có 67% bên tham gia thực thi báo cáo này.

Bảo Bảo (theo JRC, IEA)